NGỘ ĐỘC SAU KHI ĂN BÁNH MÌ: NGƯỜI KINH DOANH CÓ THỂ BỊ XỬ LÝ RA SAO, NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐƯỢC BẢO VỆ THẾ NÀO?

14/10/2026
NGỘ ĐỘC SAU KHI ĂN BÁNH MÌ: NGƯỜI KINH DOANH CÓ THỂ BỊ XỬ LÝ RA SAO, NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐƯỢC BẢO VỆ THẾ NÀO?

Vừa qua, Sở Y tế Quảng Ngãi cho biết tính đến trưa ngày 12/10/2026, vụ nghi ngộ độc thực phẩm liên quan đến bánh mì tại phường Cẩm Thành đã ghi nhận 135 bệnh nhân đang điều trị nội trú tại 06 cơ sở y tế. Vụ việc một lần nữa đặt ra vấn đề về bảo đảm an toàn thực phẩm trong hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố. Khi thực phẩm không bảo đảm an toàn gây ảnh hưởng đến sức khỏe, người kinh doanh có thể phải chịu những trách nhiệm pháp lý nào? Người tiêu dùng có quyền yêu cầu bồi thường và cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình?

1. Người sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nghĩa vụ bảo đảm an toàn thực phẩm

Theo các nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, 2025) thì bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm; các chủ thể này phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh.

Đối với hoạt động sản xuất thực phẩm, khoản 14 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 xác định sản xuất thực phẩm bao gồm một hoặc một số công đoạn như sơ chế, chế biến, bao gói và bảo quản nhằm tạo ra thực phẩm. Theo điểm a khoản 2 Điều 7, tổ chức, cá nhân sản xuất thực phẩm phải tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn trong quá trình sản xuất và chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm do mình sản xuất.

Đối với hoạt động kinh doanh thực phẩm, khoản 8 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 xác định kinh doanh thực phẩm bao gồm các hoạt động giới thiệu, bảo quản, vận chuyển hoặc buôn bán thực phẩm. Theo điểm a khoản 2 Điều 8, tổ chức, cá nhân kinh doanh thực phẩm phải tuân thủ các điều kiện bảo đảm an toàn trong quá trình kinh doanh và chịu trách nhiệm về an toàn thực phẩm do mình kinh doanh.

Đối với người bán bánh mì, nghĩa vụ này thể hiện ở việc kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ của nguyên liệu và thực phẩm nhập vào; lưu giữ thông tin liên quan; bảo đảm điều kiện bảo quản và vệ sinh trong quá trình bán hàng. Đặc biệt, theo các điểm b, đ, e, g và l khoản 2 Điều 8, người kinh doanh phải thực hiện truy xuất nguồn gốc thực phẩm không bảo đảm an toàn, kịp thời ngừng kinh doanh khi phát hiện thực phẩm không an toàn, báo cáo cơ quan có thẩm quyền và phối hợp điều tra, khắc phục hậu quả khi phát hiện ngộ độc thực phẩm do thực phẩm mình kinh doanh gây ra; đồng thời bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật khi có đủ căn cứ phát sinh trách nhiệm.

Như vậy, một cơ sở bánh mì có thể đồng thời thực hiện hoạt động sản xuất và kinh doanh thực phẩm nếu trực tiếp chế biến để tạo ra sản phẩm rồi bán cho người tiêu dùng. Khi xảy ra sự cố nghi ngộ độc, cần xác định công đoạn phát sinh nguy cơ, chủ thể thực hiện và nguyên nhân gây ngộ độc để làm rõ trách nhiệm tương ứng, thay vì mặc nhiên quy toàn bộ trách nhiệm cho người trực tiếp bán bánh mì.

2. Người kinh doanh có thể bị xử lý như thế nào nếu thực phẩm gây ngộ độc?

2.1. Xử phạt vi phạm hành chính

Theo điểm a khoản 8 Điều 22 Nghị định số 115/2018/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2021/NĐ-CP), trường hợp nhập khẩu, sản xuất, chế biến, cung cấp hoặc bán thực phẩm không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm, gây ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe của từ 05 người trở lên nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể bị phạt tiền từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với cá nhân. Nếu chủ thể vi phạm là tổ chức, mức phạt được áp dụng gấp hai lần mức phạt đối với cá nhân theo khoản 2 Điều 3 của Nghị định này.

Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị áp dụng các biện pháp xử lý bổ sung và khắc phục hậu quả theo quy định. Cụ thể, điểm b khoản 10 Điều 22 quy định việc đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh, cung cấp thực phẩm từ 03 tháng đến 05 tháng đối với vi phạm thuộc khoản 8 Điều này. Đồng thời, theo khoản 11 Điều 22, chủ thể vi phạm có thể bị buộc thu hồi, tiêu hủy thực phẩm và buộc chịu các chi phí xử lý ngộ độc thực phẩm, khám và điều trị người bị ngộ độc theo trường hợp luật định.

2.2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Theo khoản 1 Điều 9 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, người tiêu dùng thực phẩm có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi của mình và được bồi thường thiệt hại do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra theo quy định pháp luật.

Đồng thời, khoản 1 Điều 34 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra. Tùy tính chất vụ việc, quy định này có thể được xem xét áp dụng nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm còn được xem xét theo Điều 584 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2.3. Trường hợp nào người kinh doanh có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Trong trường hợp hành vi vi phạm có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều luật này quy định trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm đáp ứng những điều kiện cụ thể. Trong đó, mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe của người bị ngộ độc là một trong những căn cứ để xác định khung hình phạt. Chẳng hạn, điểm b khoản 3 Điều 317 quy định khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với trường hợp gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 101 người đến 200 người.

3. Người tiêu dùng bị ngộ độc thực phẩm có những quyền gì?

Khi sức khỏe bị ảnh hưởng do sử dụng thực phẩm không an toàn, người tiêu dùng có quyền yêu cầu bảo vệ lợi ích hợp pháp và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Cụ thể, khoản 1 Điều 9 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 ghi nhận quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm bảo vệ quyền lợi của mình; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và được bồi thường thiệt hại do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 quy định quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác khi sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Người tiêu dùng cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm an toàn và thực hiện các phương thức pháp lý để bảo vệ quyền lợi của mình.

Yêu cầu bồi thường thiệt hại: Người bị ảnh hưởng có thể yêu cầu thanh toán các khoản thiệt hại phát sinh theo quy định pháp luật, với điều kiện có căn cứ xác định trách nhiệm và thiệt hại thực tế.

Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết: Người tiêu dùng có thể cung cấp thông tin về vụ việc để cơ quan chức năng xác minh nguyên nhân, kiểm tra điều kiện an toàn thực phẩm và xử lý vi phạm nếu có.

Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện: Nếu quyền lợi bị xâm phạm, người tiêu dùng có thể yêu cầu cơ sở kinh doanh giải quyết, đề nghị hỗ trợ thương lượng hoặc khởi kiện tại Tòa án theo quy định.

4. Người tiêu dùng cần làm gì khi nghi bị ngộ độc sau khi ăn bánh mì?

Để bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của mình, người tiêu dùng nên chủ động thực hiện các bước sau:

Thứ nhất, ưu tiên khám và điều trị. Khi có dấu hiệu nghi ngộ độc thực phẩm, cần đến cơ sở y tế để được kiểm tra và điều trị kịp thời. Người bị ảnh hưởng nên thông tin về thực phẩm đã sử dụng, thời điểm ăn và các triệu chứng xuất hiện để hỗ trợ việc xác định nguyên nhân.

Thứ hai, lưu giữ chứng cứ liên quan đến việc mua và sử dụng thực phẩm. Các tài liệu hữu ích có thể bao gồm hóa đơn hoặc bằng chứng thanh toán, thông tin địa điểm mua, thời điểm mua, hình ảnh thực phẩm, bao bì và thông tin về những người cùng sử dụng thực phẩm nếu có. Nếu còn thực phẩm nghi gây ngộ độc, không nên tiếp tục sử dụng; việc bảo quản, cung cấp mẫu cần thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan chức năng.

Thứ ba, lưu giữ hồ sơ chứng minh thiệt hại. Người bị ngộ độc nên giữ hồ sơ khám chữa bệnh, đơn thuốc, hóa đơn viện phí và tài liệu chứng minh các khoản chi phí phát sinh. Trường hợp phải nghỉ việc, mất hoặc giảm thu nhập, cần lưu giữ giấy tờ phù hợp để làm căn cứ yêu cầu bồi thường.

Thứ tư, thông báo vụ việc đến cơ quan có thẩm quyền. Theo điểm b khoản 2 Điều 9 Luật An toàn thực phẩm năm 2010, người tiêu dùng thực phẩm có nghĩa vụ kịp thời cung cấp thông tin khi phát hiện nguy cơ mất an toàn thực phẩm và khai báo ngộ độc thực phẩm với cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định.

Thứ năm, gửi yêu cầu bồi thường và lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp. Người bị thiệt hại có thể gửi yêu cầu kèm tài liệu liên quan đến cơ sở kinh doanh hoặc chủ thể được xác định có trách nhiệm. Theo khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, người tiêu dùng có quyền yêu cầu thương lượng; tổ chức, cá nhân kinh doanh có trách nhiệm tiếp nhận và tiến hành thương lượng trong thời hạn luật định. Nếu tranh chấp không được giải quyết, người tiêu dùng có thể cân nhắc các phương thức giải quyết khác theo quy định pháp luật, trong đó có khởi kiện tại Tòa án.

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Ngộ độc sau khi ăn bánh mì: người kinh doanh có thể bị xử lý ra sao, người tiêu dùng được bảo vệ thế nào?”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Hữu Nghị

Tư vấn pháp luật