TỐ TỤNG LY HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VÀ CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

21/08/2026
TỐ TỤNG LY HÔN GIỮA CÔNG DÂN VIỆT NAM VÀ CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định 03 trường hợp được áp dụng thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc Phần thứ tám của Bộ luật này. Tuy nhiên vẫn có một trường hợp nằm ngoài ba trường hợp trên được áp dụng thủ tục tố tụng có yếu tố nước ngoài dù cho không có một văn bản nào khác quy định trường hợp ngoại lệ. Vậy tình huống cụ thể là gì và tại sao lại dẫn đến ngoại lệ ấy, mời các bạn đọc quan tâm theo dõi bài viết dưới đây.

1. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Căn cứ Khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong ba trường hợp sau đây:

“a. Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;

b. Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;

c. Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”

Có thể tóm gọn lại rằng một vụ việc tố tụng được xem là có yếu tố nước ngoài khi: “có ít nhất một chủ thể có quốc tịch nước ngoài” hoặc “các bên đều là chủ thể Việt Nam nhưng địa điểm xảy ra sự kiện pháp lý/đối tượng của quan hệ ở nước ngoài”.

Khi này, thẩm quyền, trình tự, thủ tục,… tố tụng nói chung và xét xử nói riêng đối với các trường hợp trên, ngoài tuân theo các quy định như đối với vụ việc trong nước, còn bị điều chỉnh bởi các quy định thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Phần thứ tám thuộc Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

2. Vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài

Về căn cứ để áp dụng các quy định tư pháp quốc tế thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cần xét đến các trường hợp được xác định là quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Theo đó, Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là “quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.”

Để diễn giải cụ thể hơn, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân thuộc một trong các trường hợp sau:

– Cả hai bên đều là người nước ngoài (hôn nhân được công nhân tại Việt Nam);

Ví dụ: Hai công dân Hoa Kỳ định cư và kết hôn tại Việt Nam

– Hôn nhân giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài;

– Cả hai bên đều là công dân Việt Nam nhưng có ít nhân một bên là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài (*);

– Cả hai bên đều là công dân Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân đó điều chỉnh theo pháp luật/phát sinh tại nước ngoài;

Ví dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài.

– Cả hai bên đều là công dân Việt Nam nhưng tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân này ở nước ngoài.

Ví dụ: Có tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là bất động sản ở nước ngoài.

Khi xét đến 5 trường hợp trên, có thể thấy một trường hợp (*) có điều kiện không thuộc ba trường hợp xét vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nêu trên. Cụ thể trong một tình huống giả định hoàn toàn có thể xảy ra trong thực tế là “Vụ việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng kết hôn tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam”, tình huống này loại trừ cả ba trường hợp tại Khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bởi:

– Không có người nước ngoài nên không thỏa mãn trường hợp tại điểm a;

– Kết hôn tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam nên không thỏa mãn trường hợp tại điểm b;

– Bởi yêu cầu ly hôn chỉ xét việc chấm dứt quan hệ nhân thân về hôn nhân giữa hai người, mà không xét đến các đối tượng trong quan hệ hôn nhân ấy (ví dụ như quan hệ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân) nên không thỏa mãn trường hợp tại điểm c.

Nếu theo luật định như trên, đây là hôn nhân có yếu tố nước ngoài nhưng trong tố tụng thì không phải vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng, nhiều các Tòa án vẫn nhận định đây là vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, và áp dụng thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mặc dù không có văn bản quy phạm pháp luật nào hướng dẫn như vậy.

Điều kiện đơn phương ly hôn, thuận tình ly hôn

3. Vì sao dẫn đến tình huống trên

Để lý giải việc tố tụng dường như vượt ngoài phạm vi như trên, cần quay lại thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình 2014 được ban hành. Tại thời điểm ấy, Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 vẫn chưa được ban hành với ba trường hợp có yếu tố nước ngoài. Mà quy định “quan hệ/vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” vẫn theo góc nhìn của thời điểm 2005, là “có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.” theo Điều 758 Bộ luật Dân sự 2005 và khá tương tự tại Điều 405 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2005.

Luật Hôn nhân và gia đình ban hành năm 2014 kế thừa quy định trên của hai bộ luật năm 2005. Hôn nhân giữa hai công dân Việt Nam mà có ít nhất một bên định cư ở nước ngoài là hôn nhân có yếu tố nước ngoài, và vụ việc tố tụng ly hôn của họ khi ấy vẫn được xem là vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo Khoản 2 Điều 405 Bộ luật Tố tụng dân sự 2005, hợp lý và liên thông nhất quan giữa các luật.

Sau này khi quy định về “có yếu tố nước ngoài” được xây mới tại hai bộ luật năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 vẫn chưa thể thay đổi theo góc nhìn mới. Để duy trì sự liên thông nhất quán ấy, hiện tại khi thụ lý giải quyết vụ việc liên quan tới hôn nhân có yếu tố nước ngoài, Tòa án sẽ áp dụng thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, bao gồm cả tình huống đặc biệt nằm ngoài các trường hợp tại Khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 như trên.

Ngoài lý giải trên, việc áp dụng nằm ngoài phạm vi Khoản 2 Điều 464 trong trường hợp ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài còn có những lợi ích thực tiễn. Ví dụ nếu Tòa án không áp dụng thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mà chỉ theo thủ tục thông thường như 2 công dân Việt Nam. Thì trong tình huống người khởi kiện không rõ địa chỉ của đương sự định cư nước ngoài, Tòa án không thể áp dụng Khoản 2 Điều 473 để đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ hay tìm kiếm đương sự. Hoặc khi cần tống đạt văn bản tố tụng, Tòa án cần phải áp dụng Điều 474 để tống đạt đến đương sự đang định cư ở nước ngoài.

Vậy nên, việc giải quyết theo thủ tục dành cho vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài duy trì sự nhất quán giữa các luật, còn đảm bảo đầy đủ các công cụ pháp lý cần thiết trong quá trình tố tụng có đương sự nước ngoài.

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về Ly hôn giữa công dân việt nam và công dân việt nam định cư ở nước ngoài. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật