ÁN LỆ VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG ÁN LỆ TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI (Phần 1)

11/01/2024
ÁN LỆ VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG ÁN LỆ TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI (Phần 1)

Trên thế giới hình thành hai trường phái án lệ, đó là: “án lệ ràng buộc” và “án lệ thuyết phục”. Tuy nhiên, việc phân biệt này không phải lúc nào cũng rõ ràng. Án lệ ràng buộc hoặc bắt buộc chính là luật và được lập ra và phải được tôn trọng và tuân thủ theo. Án lệ có sức thuyết phục là án lệ có tính phù hợp và có sức ảnh hưởng nhưng không nhất thiết phải được áp dụng. Đối với các nước thuộc hệ thống Thông luật (Common Law) theo trường phái án lệ ràng buộc, đối với các nước thuộc hệ thống Dân luật (Civil Law) theo trường phái án lệ thuyết phục.

  1. Thực tiễn áp dụng án lệ tại một số nước theo hệ thống thông luật

Trên cơ sở những nghiên cứu về án lệ trong các nước Anh, Mỹ, Úc,… đại diện cho hệ thống pháp luật các nước theo truyền thống pháp luật Thông luật, chúng tôi xin chỉ ra nhưng nét cơ bản trong thực tiễn áp dụng án lệ của hệ thống pháp luật các nước theo truyền thống này như sau:

1.1. Án lệ là nguồn luật có giá trị bắt buộc

Có thể nói rằng sự tuân thủ án lệ đã trở thành một yếu tố gắn sâu vào văn hóa pháp lý của các nước Thông luật. Điều này được giải thích bởi hai lý do cơ bản sau: Thứ nhất, sự pháp điển hóa pháp luật của các nước Thông luật không giống như ở các nước Dân luật thành văn, trong hệ thống pháp luật Anh, Mỹ vẫn còn nhiều lĩnh vực pháp luật trong đó nguồn luật chủ yếu được dựa trên án lệ (hay nói cách khác là dựa trên Thông luật). Thứ hai, các văn bản qui phạm pháp luật được hình thành chủ yếu dựa vào những nguyên tắc, luật đã được hình thành thông qua những án lệ. Hơn nữa, vai trò giải thích luật thành văn của Thẩm phán đã tạo ra vô số những án lệ mà nó được coi là luật chi tiết trong áp dụng.

1.2. Tòa án cấp dưới có nghĩa vụ t

uân theo án lệ của tòa án cấp trên

Về nguyên tắc trong mỗi hệ thống pháp luật thì án lệ của tòa án cấp trên sẽ có giá trị ràng buộc đối với tòa án cấp dưới. Theo mối quan hệ này thì án lệ của tòa án cấp cao nhất (Tòa án tối cao) sẽ có giá trị ràng buộc đối với tất cả các tòa án cấp dưới.

Rupert Cross một nhà nghiên cứu về án lệ của nước Anh đã hệ thống ba qui tắc cơ bản về mối quan hệ giữa các tòa án trong hệ thống tòa án của Vương quốc Anh liên quan đến sự tuân thủ án lệ như sau: “Rule 1) (Qui tắc 1): Tất cả các tòa án phải lưu ý đến các án lệ có liên quan đến các vụ án trong hoạt động xét xử; Rule 2 (Qui tắc 2): Tất cả các tòa án cấp dưới phải tuân thủ án lệ của các tòa án cấp trên trong hệ thống tòa án; Rule 3 (Qui tắc 3): Các tòa án phúc thẩm nhìn chung bị ràng buộc bởi chính án lệ của nó trong hoạt động xét xử”[14].

Trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, các tòa án cấp dưới của liên bang và các tòa án của bang có nghĩa vụ tuân thủ các quyết định trước đây của Tòa án tối cao Liên bang. Các phán quyết của tòa án phúc thẩm khu vực của liên bang mang tính bắt buộc tuân theo đối với các tòa án cấp dưới nằm trong lãnh thổ khu vực đó chứ không ràng buộc các tòa án khu vực khác. Tương tự, các tòa án cấp trên chỉ có giá trị ràng buộc đối với các tòa án cấp dưới của bang mà thôi[15].

Cũng như ở Anh, ở Úc Tòa án cấp dưới có nghĩa vụ phải tuân theo các phán quyết trước đây của tòa án cấp trên, cụ thể là Tòa án tối cao của bang phải tuân theo phán quyết của Full Court (Tòa toàn phần) hoặc Tòa Phúc thẩm hoặc Tòa Phúc thẩm Hình sự; và các tòa án này phải tuân theo các phán quyết của Tòa án tối cao Liên bang (High Court).

1.3. Tòa án cùng cấp không có nghĩa vụ phải tuân thủ án lệ của nhau

Các tòa án cùng cấp với nhau thì không bị lệ thuộc vào án lệ của nhau. Ví dụ, như tại Úc, Tòa án tối cao của bang này không bị ràng buộc bởi án lệ của Tòa án tối cao bang khác. Nhưng trên thực tế các Tòa án tối cao các bang của Úc rất chú ý tham khảo án lệ của nhau[16]. Điều này cũng được thể hiện tương tự trong hệ thống pháp luật liên bang đặc trưng ở Mỹ.

1.4. Tòa án tối cao không bị ràng buộc bởi án lệ của chính mình

Tòa án tối cao thường không có nghĩa vụ phải tuân thủ cứng nhắc các phán quyết trước đây của mình. Bởi lẽ cơ quan tối cao có trách nhiệm với chính sách pháp lý tổng thể của đất nước cho nên Tòa án tối cao cần phải linh động. Tuy nhiên, việc trực tiếp bác bỏ tiền lệ là một biện pháp ngoại lệ mà các tòa án tối cao thường cố gắng tránh. Ví dụ: thông qua số liệu thống kê cho thấy, kể từ năm 1966 đến năm 1987, Thượng Nghị viện Anh (hiện nay là Toà án tối cao của Anh) mới chỉ thực hiện có 7 lần bãi bỏ các án lệ của chính Thượng Nghị viện Anh thông qua hàng nghìn vụ án mà Thượng Nghị viện đã xét xử.

1.5. Án lệ có thể bị bãi bỏ

Các án lệ được coi là luật và nó cũng có thể bị bãi bỏ. Có hai cách để án lệ có thể bị bãi bỏ:

– Thứ nhất, án lệ có thể bị bãi bỏ bởi chính tòa án đã tạo ra nó hoặc một tòa án cấp cao hơn tòa án đã tạo ra án lệ.

– Thứ hai, án lệ có thể bị bãi bỏ bởi một luật do cơ quan lập pháp thông qua.

1.6. Những tiêu chí kỹ thuật khi áp dụng án lệ trong hệ thống thông luật

Thực tiễn áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật của các nước hình thành trên cơ sở truyền thống Thông luật cho thấy việc hiểu thấu đáo khái niệm án lệ và sự vận dụng nó trong thực tiễn xét xử phụ thuộc vào những vấn đề mang tính kỹ thuật trong áp dụng án lệ gồm: (1) Trong những bản án thì phần nào được coi là có giá trị án lệ bắt buộc; (2) Việc phân biệt án lệ trong áp dụng đối với các vụ việc cụ thể (precedent can be distinguishable); (3) Giá trị của án lệ gắn với thứ bậc của tòa án đã tạo ra nó; (4) Cách viện dẫn án lệ chỉ có giá trị tham khảo thay vì án lệ có giá trị bắt buộc trong các bản án; (5) Sự lập luận hợp lý của Thẩm phán trong án lệ (legal reasoning); (6) Cách đọc và phân tích nội dung của các án lệ; (7) Cách viện dẫn án lệ trong những bản án; (8) Những ý kiến bất đồng có thể được công bố trong các án lệ.

1.7. Không phải mọi án lệ đều có giá trị bắt buộc

Thực tiễn cho thấy trong các nước Thông luật, có những tình huống sau đây làm cho án lệ chỉ có tính tham khảo đối với Thẩm phán trong xét xử.

– Tòa án cấp cao có thể viện dẫn, tham khảo án lệ của tòa án cấp dưới.

– Khi một tòa án cấp dưới viện dẫn án lệ của tòa án cấp trên, hoặc một tòa án viện dẫn án lệ của chính nó nhưng sự viện dẫn này chỉ liên quan đến phần Obiter dictum (phần không có giá trị bắt buộc trong bản án), thì án lệ được viện dẫn không có giá trị bắt buộc. Các tòa án (đặc biệt là các tòa án phúc thẩm và tối cao) có thể viện dẫn án lệ của chính nó với mục đích tham khảo và tăng giá trị thuyết phục cho quyết định của tòa án. Những án lệ này không có tính bắt buộc.

– Sự viện dẫn tham khảo án lệ của pháp luật nước ngoài không có giá trị bắt buộc.

VT

Nguồn: Trích phụ lục 2 Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 của Tòa án nhân dân tối cao

Tư vấn pháp luật