ÁN LỆ VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG ÁN LỆ TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI (Phần 2)

11/01/2024
ÁN LỆ VÀ THỰC TIỄN SỬ DỤNG ÁN LỆ TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI (Phần 2)
  1. Thực tiễn áp dụng án lệ tại một số nước theo hệ thống dân luật thành văn

Trên cơ sở những nghiên cứu về án lệ trong các nước Pháp, Đức, Nhật bản, đại diện cho các nước thuộc hệ thống dân luật thành văn, chúng tôi xin chỉ ra những nét đặc trưng cơ bản trong thực tiễn áp dụng án lệ trong hệ thống này như sau.

2.1. Án lệ không bắt buộc – không phải là nguồn luật chính thức

Án lệ trong hệ thống dân luật thành văn có điểm đối lập cơ bản với án lệ trong hệ thống Thông luật ở chỗ trong hệ thống dân luật thành văn án lệ không được coi là một nguồn luật bắt buộc. Nguyên tắc “Stare decisis” – nguyên tắc tuân theo án lệ là nguyên tắc nền tảng trong việc xác định cách thức áp dụng và tuân thủ của tòa án các nước thuộc hệ thống Thông luật. Đối với các nước trong hệ thống dân luật, không tồn tại khái niệm “Stare decisis” trong văn hóa pháp lý truyền thống của họ. Về cơ bản, các nước thuộc hệ thống dân luật thành văn không coi án lệ như một nguyên tắc xét xử, bởi quan niệm luật là những quy định thành văn được ban hành thành luật và những gì không ban hành thành văn bản thì không phải là luật.

Trong hệ thống pháp luật Pháp, nguyên tắc hiến định ở Pháp là những phán quyết của tòa án đã có hiệu lực pháp luật được coi là “án lệ”(le jurisprudence) không phải là nguồn luật. Các án lệ này chỉ có giá trị tham khảo thể hiện: khi vận dụng “tinh thần” của những phán quyết trước đây có tình tiết tương tự Tòa án không trích dẫn những phán quyết đó. Nếu Tòa án nào đó trích dẫn vụ án cụ thể nào đó làm cơ sở đưa ra phán quyết đối với vụ án đang thụ lý giải quyết thì phán quyết đó bị huỷ bỏ vì bị coi là không có cơ sở pháp lý. Ngay cả Tòa Phá án Pháp “Cour de casation” muốn huỷ các bản án của Tòa án cấp dưới có mâu thuẫn với “le jurisprudence” của mình thì “Cour de casation” cũng không thể dẫn chiếu đến bản án trước đây của mình (mặc dù ai cũng có thể nhìn thấy điều đó) mà vẫn phải trích dẫn điều luật cụ thể hoặc những nguyên tắc pháp lý nhất định.

Trong hệ thống pháp luật Nhật Bản, về nguyên tắc, án lệ không được coi là một nguồn luật bắt buộc có giá trị như những văn bản qui phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Ở Nhật Bản, không có quy định cụ thể nào về hiệu lực chung của các bản án và quyết định của Toà án tối cao như là “án lệ”, vì tại khoản 3 Điều 76 Hiến pháp Nhật Bản có quy định: “Tất cả các Thẩm phán độc lập làm việc theo lương tâm và chỉ bị rằng buộc bởi Hiến pháp và pháp luật”. Bộ luật Tố tụng dân sự và Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Thẩm phán của toà án cấp dưới đôi khi có thể xét xử khác so với án lệ của Toà án tối cao, Toà án tối cao cũng có thể không huỷ án của toà án cấp dưới cho dù nó trái ngược với án lệ. Tuy nhiên, trong một số văn bản pháp luật có những quy định cụ thể về vấn đề ràng buộc án lệ đối với toà án các cấp, cụ thể như sau:

Tại khoản 4 của Đạo luật Toà án của Nhật Bản quy định “một kết luận trong một bản án của toà cấp cao hơn sẽ ràng buộc toà án cấp dưới phải tuân theo đối với vụ án liên quan. Điều luật này chỉ quy định, một kết luận trong bản án của toà phúc thẩm sẽ ràng buộc toà án cấp dưới nếu toà phúc thẩm (ở Nhật Bản không có trình tự giám đốc thẩm, mà bản án, quyết định của toà án cấp phúc thẩm là cuối cùng. Riêng cấp phúc thẩm có phúc thẩm lần một và phúc thẩm lần 2 “kháng cáo Jokoku”) huỷ bản án sơ thẩm và giao lại vụ án cho toà án đó giải quyết lại; điều luật này quy định hiệu lực ràng buộc chỉ “đối với vụ án liên quan” và không quy định hiệu lực pháp lý đối với các trường hợp khác.

Khoản 1 Điều 318 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: khi có đơn yêu cầu của đương sự và quyết định trái với án lệ của Toà án tối cao thì “kháng cáo Jokoku” có thể được thực hiện. Theo đó, có khả năng các bản án của toà án cấp dưới sẽ bị huỷ, bởi vì chúng đối lập với án lệ của Toà án tối cao hoặc Toà án tối cao có thể xét xử lại một vụ án mà trái với án lệ của Toà án tối cao trước đó, trường hợp này thường diễn ra đối với những vụ án có liên quan đến những vấn đề quan trọng về việc giải thích pháp luật.

Khoản 2 Điều 405 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: khi một Toà án cấp cao ra quyết định trái với án lệ của Toà án tối cao, “kháng cáo Jokoku” đối lập với bản án có thể được thực hiện và Toà án tối cao có thể xét xử lại vụ án đó. Vì thế, bản án của toà án cấp cao có thể sẽ bị huỷ do đối lập với án lệ của Toà án tối cao.

2.2. Những tòa án có thẩm quyền tạo ra án lệ

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng án lệ trong hệ thống tòa án các nước trong hệ thống Dân luật cho chúng ta thấy các tòa án cấp cao, đặc biệt là những Tòa án tối cao có chức năng chủ đạo trong việc thiết lập và tạo ra cơ chế cho việc phát huy vai trò của án lệ trong xét xử. Điều này được thể hiện cụ thể trong một số nước sau đây:

Trong hệ thống Tòa án Pháp, hệ thống tòa án được chia thành hai ngạch là Tòa án Tư pháp và Tòa án Hành chính, trong đó chỉ những tòa án cấp cao nhất của hai hệ thống tòa án này mới có thẩm quyền tạo ra án lệ. Tòa Phá án là tòa án cấp cao nhất của ngạch Tòa án Tư pháp, có vai trò quan trọng trong việc tạo ra án lệ thông qua chức năng giám đốc thẩm (chức năng phá án) của nó. Tòa Hành chính tối cao của Pháp còn được gọi là Hội đồng nhà nước là Tòa án cao nhất trong ngạch Tòa Hành chính. Những án lệ của tòa án này thực sự đã đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển luật hành chính ở Pháp. Luật hành chính của Pháp không được phát triển dựa trên nền tảng pháp điển hóa trong các bộ luật như trong lĩnh vực dân sự, thương mại hay hình sự. Những văn bản pháp luật đơn lẻ cộng với vai trò giải thích pháp luật của hệ thống tòa hành chính ở Pháp đã làm cho pháp luật hành chính phát triển hàng ngày để theo kịp những thay đổi liên tục của hoạt động quản lý xã hội. Về nguyên tắc không có qui định bắt buộc tòa án cấp dưới phải tuân theo án lệ của Toà hành chính tối cao, nhưng sự tôn trọng và đề cao vai trò các án lệ của Hội đồng Nhà nước đã trở thành một nét đặc trưng trong văn hóa pháp lý ở Pháp.

Trong hệ thống Tòa án của Đức, thẩm quyền tạo ra án lệ chỉ thuộc về những tòa án cấp cao nhất trong hệ thống tòa án liên bang. Tòa án Hiến pháp Đức được coi là tòa án duy nhất ở Đức có thẩm quyền tạo ra các án lệ mang tính bắt buộc được đảm bảo bằng những qui định của Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức và Luật Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức. “Điều 31.(1) của Luật Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức qui định “Các quyết định của Toà án Hiến pháp Liên bang có hiệu lực bắt buộc với các cơ quan của chính quyền liên bang và các tiểu bang cũng như tất cả những toà án và các cơ quan nhà nước khác”. Hơn nữa, có thể chấp nhận được việc án lệ đã được viện dẫn đến trong quyết định của các tòa án của nước Đức”.

Trong hệ thống tòa án của Nhật Bản, thông thường thì những bản án và quyết định của toà án cấp cao hơn thường được xem là “án lệ”, đặc biệt là những bản án, quyết định của toà án tối cao, vì có “hiệu quả pháp lý nhất định” đối với toà án cấp dưới. Tuy nhiên, có trường hợp không chỉ các bản án và quyết định của toà án cấp cao mà ngay cả những bản án và quyết định của các toà án cấp dưới đều có thể trở thành “án lệ”. Pháp luật Nhật Bản không có quy định nào về nghĩa vụ của Thẩm phán thuộc tòa án cấp dưới buộc phải tuân theo án lệ. Vì thế, các Thẩm phán của tòa cấp dưới không tuân theo những án lệ một cách mù quáng mà họ xem xét án lệ với quan điểm phê bình và theo đuổi những cách giải quyết phù hợp nhất đối với vụ án mà họ xử lý. (Hết)

VT

Nguồn: Trích phụ lục 2 Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 của Tòa án nhân dân tối cao

Tư vấn pháp luật