ÁN LỆ VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM TƯƠNG ĐỒNG

10/01/2024
ÁN LỆ VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM TƯƠNG ĐỒNG
  1. Quan niệm về án lệ
  • Theo Từ điển luật học của Anh thì án lệ là bản án hoặc quyết định được nêu ra để chứng minh cho một quyết định trong một vụ việc gần tương tự sau đó.
  • Theo Từ điển luật học của Mỹ định nghĩa án lệ là một quyết định xét xử mà ở đó tạo ra một quy tắc với vai trò là điểm quy chiếu để quyết định những vụ án sau này có cùng tình tiết hoặc vấn đề pháp lý.
  • Từ điển tiếng Việt không định nghĩa án lệ nhưng có giải thích về từ “án” và từ “lệ”; từ “án” có nghĩa “vụ phạm pháp hoặc tranh chấp quyền lợi cần được xét xử trước Tòa án hoặc quyết định của Tòa xét xử vụ án“, còn từ “lệ” được hiểu “Điều quy định có từ lâu đã trở thành nề nếp, mọi người cứ theo thế mà làm hoặc điều đó được lặp đi lặp lại nhiều lần, tự nhiên đã thành thói quen“.
  • Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì án lệ được hiểu là: “quyết định hoặc bản án của tòa cấp trên có giá trị bắt buộc đối với tòa án cấp dưới; tòa phá án cũng phải tôn trọng quyết định trước đó của bản thân mình ”.
  • Theo Từ điển Luật học thì án lệ được hiểu là: “Bản án đã tuyên hoặc một sự giải thích, áp dụng pháp luật được coi như một tiền lệ làm cơ sở để các Thẩm phán sau đó có thể áp dụng trong các trường hợp tương tự”.
  • Trong Từ điển pháp luật Anh – Việt thì khái niệm “precedent” hay tiền lệ được hiểu như sau: “Lời phán quyết của tòa án, thông thường được ghi lại trong tập san án lệ (law report) và sử dụng như một quyền để đưa ra quyết định tương tự trong các vụ án tiếp theo”.

Như vậy, qua việc liệt kê các khái niệm án lệ nêu trên có thể thấy các khái niệm về án lệ không giống nhau tùy vào từng hệ thống pháp luật cũng như việc áp dụng án lệ trong thực tiễn xét xử. Án lệ có thể nhìn dưới nhiều góc độ. Khái niệm án lệ là một khái niệm bao hàm trong nó những thực tế rất đa dạng. Từ những khái niệm nêu trên có thể rút ra một số nhận xét sau đây:

Thứ nhất, án lệ trước hết phải là bản án, quyết định của Tòa án nhưng không phải toàn bộ bản án, quyết định của tòa án mà khi nhắc tới án lệ là nhắc tới bản án, quyết định chứa đựng cách thức chung, quan điểm chung được Tòa án áp dụng trong việc giải quyết vấn đề pháp luật trong bản án, quyết định đó.

Thứ hai, án lệ là đề cập đến sự lặp đi lặp lại của một giải pháp được Tòa án áp dụng cho nhiều vụ án tạo ra cái gọi là tiền lệ. Chính do đặc điểm này mà không phải mọi bản án, quyết định của Tòa án đều có giá trị án lệ mà chỉ những bản án, quyết định chứa đựng những vấn đề về giải thích và áp dụng pháp luật từ đó có thể rút ra nguyên tắc chung để áp dụng cho những vụ án khác. Tuy nhiên, tính tiền lệ này khác nhau ở từng nước. Những nước có xu hướng theo hệ thống pháp luật dân sự (sau đây gọi tắt là hệ thống Civil law) thì tính tiền lệ này chỉ có sự ràng buộc về mặt tâm lý còn tại các nước có xu hướng theo hệ thống thông luật (sau đây gọi tắt là hệ thống Common law) thì tính tiền lệ này có hiệu lực pháp lý bắt buộc – Tòa án cấp dưới xét xử vụ việc sau bắt buộc phải áp dụng giải pháp của các Tòa án cấp trên đã xét xử vụ việc trước tương tự, đặc biệt là của Tòa án tối cao trong cùng một hệ thống. Tiêu chí phân biệt hai xu hướng trên là ở chỗ nếu như những nước có xu hướng theo hệ thống Civil law thì việc Tòa án trích dẫn một bản án cụ thể làm căn cứ để đưa ra phán quyết cho vụ án mình đang giải quyết là không được chấp nhận[8] thì việc này hoàn toàn được chấp nhận tại những nước có xu hướng theo hệ thống Common law.

Thứ ba, bản án, quyết định là có giá trị án lệ phải là cơ sở cho Tòa án cấp dưới vận dụng khi xét xử một vụ án tương tự. Cơ sở này có thể mang tính chất bắt buộc hoặc mang tính chất tham khảo. Tính tương tự ở đây được hiểu là tương tự nhau về tình tiết, sự kiện cơ bản và tương tự về vấn đề pháp lý.

Qua nghiên cứu khái niệm án lệ của một số nước, cũng như tìm hiểu bản chất của án lệ có thể hiểu khái niệm án lệ như sau:

Án lệ là bản án, quyết định của Tòa án chứa đựng sự giải thích, áp dụng pháp luật được Tòa án vận dụng giải quyết vụ án có nội dung tương tự”.

  1. Khái niệm án lệ và một số khái niệm tương đồng

Để làm rõ khái niệm, điều cần thiết là phải tìm hiểu những khái niệm tương đồng như tiền lệ, luật lệ, tiền lệ án, thực tiễn tòa án, tiền lệ pháp, thông luật và những khái niệm có mối liên hệ mật thiết khác như luật tương tự và tập quán pháp.

1.2.1. Khái niệm án lệ và khái niệm tiền lệ, luật lệ, tiền lệ án, thực tiễn Tòa án, tiền lệ pháp, thông luật

  • “Tiền lệ” là việc xảy ra từ trước, tạo thành cái lệ cho những việc về sau.
  • “Luật lệ” là pháp luật và những điều đã thành lệ mà mọi người trong xã hội phải tuân theo.

Như vậy, nội hàm của những khái niệm tiền lệ và khái niệm luật lệ có phạm vi rộng hơn khái niệm án lệ.

  • “Tiền lệ án” hay “Thực tiễn Tòa án” là những khái niệm mà có quan điểm cho rằng đây là cách gọi khác của án lệ trong tư pháp quốc tế. Tuy nhiên, những khái niệm này không mang tính pháp lý và có nội hàm rộng hơn khái niệm án lệ bao gồm tất cả những bản án đã có của Tòa án và tất cả các hoạt động liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử của Tòa án.

Tiền lệ pháp hay án lệ là hai khái niệm độc lập với nhau và việc sử dụng hai khái niệm này không giống nhau. Nếu muốn nhắc đến một hình thức pháp luật (là sự biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật, cách thức mà giai cấp thống trị nâng ý chí của mình thành luật), xem xét nó trong mối tương quan với tập quán pháp và văn bản pháp luật và xem xét ở một mức độ rộng rãi thì sử dụng thuật ngữ tiền lệ pháp (Precedent). Nếu chỉ muốn nói đến những bản án cụ thể của Tòa án (được áp dụng cho những vụ việc có tình tiết hoặc vấn đề tương tự sau này thì thường sử dụng thuật ngữ án lệ (Case Law). Theo cách hiểu như vậy thì án lệ có ở bất cứ quốc gia nào và bất cứ hệ thống pháp luật nào nhưng tiền lệ pháp chỉ là hình thức pháp luật được sử dụng ở các nước theo trường phái thông luật.

Về mặt thuật ngữ thì khái niệm án lệ còn có mối quan hệ mật thiết với khái niệm thông luật (Common Law). Thông luật là tên gọi của một truyền thống pháp luật (hay hệ thống pháp luật) thường chỉ Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ hay còn được biết đến với các tên khác như: Hệ thống pháp luật Anglo – Saxon, hệ thống Thông luật, Hệ thống luật Án lệ…. Trong Thông luật còn bao gồm cả luật tập quán (tục lệ) và án lệ. Trong khi đó tiền lệ pháp hay án lệ chỉ bao gồm các bản án, quyết định của Tòa án được áp dụng để giải quyết các vụ việc tương tự về sau. Nếu chúng ta xem một truyền thống pháp luật hoặc xem xét lịch sử phát triển của nó thì ưu tiên sử dụng thuật ngữ Thông luật (Common Law).

1.2.2. Khái niệm án lệ và khái niệm tập quán pháp, luật tương tự

Khi xem xét án lệ với khái niệm tập quán pháp, cần đặt các khái niệm này trong một cái nhìn tổng thể chung về hình thức pháp luật. Theo Từ điển Luật học của Việt Nam thì: Hình thức pháp luật: cách thức mà giai cấp thống trị sử dụng để thể hiện ý chí của mình thành các quy tắc xử sự có tình bắt buộc chung. Có ba hình thức pháp luật phổ biến là pháp luật tập quán, pháp luật án lệ và văn bản quy phạm pháp luật. (1) Pháp luật tập quán (tập quán pháp) là những tập quán được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước; (2) Án lệ pháp luật (án lệ pháp, tiền lệ pháp) là hình thức pháp luật hình thành từ hoạt động xét xử của Tòa án, các bản án mẫu mực sau khi được một hội đồng Thẩm phán có thẩm quyền thừa nhận sẽ trở thành khuôn mẫu áp dụng cho các vụ việc tương tự về sau; (3) Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định trong đó có chứa các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng, cơ bản hoặc cần thiết. Và nếu xem xét khái niệm nguồn của pháp luật với tư cách là nơi chứa quy tắc pháp luật cần thiết cho xử sự của chủ thể pháp luật hay nơi chứa đựng quy phạm pháp luật thì nguồn của pháp luật đồng nghĩa với khái niệm hình thức pháp luật. Với quan niệm như trên thì có thể nói khái niệm tiền lệ pháp và tập quán pháp được phân biệt một cách rất rõ ràng.

Khái niệm luật tương tự hay áp dụng pháp luật tương tự là khái niệm độc lập với khái niệm án lệ, tuy nhiên, đôi khi người ta hiểu khái niệm án lệ theo hướng là việc đưa ra những nguyên tắc, nền tảng cho những vụ việc xảy ra sau này, hay là cách thức sử dụng các nguyên tắc có sẵn như là những căn cứ áp dụng để quyết định các vụ việc xảy ra trong tương lai. Và khi hiểu án lệ theo hướng này thì người ta thấy nét tương đồng của khái niệm án lệ với các khái niệm áp dụng tương tự pháp luật. Cách hiểu này là chưa chính xác về mặt thuật ngữ.

Tìm hiểu khái niệm án lệ cho thấy, hiểu chính xác về khái niệm án lệ thì án lệ cần phải được hình thành bởi các quyết định của Tòa án trong một vụ việc cụ thể. Và vì vậy khái niệm án lệ là rất khác với những khái niệm như Công văn hướng dẫn áp dụng pháp luật (Công văn trao đổi nghiệp vụ), Kết luận của Chánh án, Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân tuy nhiên việc sử dụng các khái niệm này có nhiều nghĩa tương đồng. Trước năm 1998, các công văn hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao cũng được Tòa án cấp dưới coi là cơ sở để ra các quyết định trong vụ án. Hiện nay, các công văn này chỉ có giá trị tham khảo. Kết luận của Chánh án, Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân….được coi là “lệ” trong khái niệm luật lệ và được Tòa án nhân dân cấp dưới tôn trọng. Có quan điểm cho rằng báo cáo hàng năm của TANDTC về tổng kết kinh nghiệm xét xử là một hình thức án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Cũng có quan điểm cho rằng hình thức này không phải là án lệ mà án lệ bao giờ cũng gắn với một vụ việc cụ thể (các báo cáo tổng kết kinh nghiệm xét xử thường không nêu bật ví dụ đưa ra là vụ việc cụ thể nào mà Tòa án đã xét xử). Quan điểm này cho rằng hình thức báo cáo tổng kết gắn với sự tổng kết kinh nghiệm xét xử của TANDTC là một đặc trưng của Tòa án tối cao trong hệ thống tòa án theo mô hình các nước xã hội chủ nghĩa. Theo chúng tôi, thì về mặt bản chất các kết luận của Chánh án, Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân, Công văn trao đổi nghiệp vụ thường chứa đựng các đường lối xét xử các vụ án. Đây là nét tương đồng với khái niệm án lệ, tuy nhiên các loại hình văn bản nêu trên không phải là án lệ, bởi vì án lệ đầu tiên và trước hết phải là bản án, quyết định của Tòa án. Hơn nữa việc phát triển án lệ còn làm giảm hay triệt tiêu những loại hình văn bản nêu trên vì nó được coi là không phù hợp với nguyên tắc: “Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật”.

Nguồn: Trích phụ lục 1 Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 của Tòa án nhân dân tối cao

VT

Tư vấn pháp luật