Nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi

02/01/2025
Nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi

Chính sách tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi luôn được Việt Nam hết mực quan tâm. Bởi lẽ, Việt Nam là một quốc gia từ lâu luôn tôn trọng và bảo vệ quyền trẻ em dựa trên cơ sở các nguyên tắc, cam kết của thế giới về quyền trẻ em, đặc biệt là trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật. Chính vì thế, pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam cũng đã có những quy định thể hiện tinh thần tiến bộ, tiếp thu các lý tưởng chung của nhân loại bằng việc quy định thêm một chương riêng để đảm bảo thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với lứa tuổi này. Vậy, các nguyên tắc tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi được quy định như thế nào? Quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé!

1. Nguyên tắc tiến hành tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi

Nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi có sự khác biệt nhất định so với người đã thành niên. Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất lẫn tinh thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương. Một trong những đặc điểm của người chưa thành niên là tinh thần còn chưa vững vàng, dễ bị chi phối, quy luật hình thành ý thức và hành vi phạm tội không thể giống người đã thành niên. Chính vì thế, pháp luật tố tụng hình sự mới xây dựng những quy định đặc biệt áp dụng riêng đối với người dưới 18 tuổi.

Pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay đã có những bước tiến đồng điệu với những cam kết quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em. Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện nay hướng tới công tác bảo vệ, giáo dục, phòng ngừa tội phạm dưới 18 tuổi; đồng thời xây dựng mô hình tư pháp thân thiện, công bằng cho đối tượng này. Ở Việt Nam, mô hình xét xử thân thiện đã được hình thành với sự ra đời của Tòa gia đình và người chưa thành niên. Đồng thời, các nguyên tắc xây dựng mô hình tố tụng nhằm hướng tới bảo vệ tốt hơn đối tượng này cũng đã được cụ thể hoá trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

Căn cứ theo Điều 414 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nguyên tắc tiến hành tố tụng đối với người dưới 18 tuổi được quy định như sau:

– Bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi; bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi.

– Bảo đảm giữ bí mật cá nhân của người dưới 18 tuổi.

– Bảo đảm quyền tham gia tố tụng của người đại diện của người dưới 18 tuổi, nhà trường, Ðoàn thanh niên, người có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý, xã hội, tổ chức khác nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động và sinh hoạt.

– Tôn trọng quyền được tham gia, trình bày ý kiến của người dưới 18 tuổi.

– Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý của người dưới 18 tuổi.

– Bảo đảm các nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

– Bảo đảm giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi.

Có thể thấy, việc xây dựng các nguyên tắc tố tụng đối với người dưới 18 tuổi dựa trên tinh thần đảm bảo phù hợp với tâm sinh lý, phát huy các quyền cho người chưa thành niên. Các quy định này còn hướng tới giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai lầm hơn là trừng phạt các hành vi sai trái, góp phần cho người chưa thành niên có một cơ hội để tái hòa nhập với cộng đồng.

Một cách tổng quát, các quy định tại Chương XXVIII Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cơ bản được chia thành hai nhóm:

– Nhóm quy định về các vấn đề chung: từ Điều 413, Điều 414, Điều 415, Điều 416, Điều 417, Điều 420, Điều 422, Điều 425, Điều 426;

– Nhóm quy định về các vấn đề cụ thể: Điều 418, Điều 419, Điều 421, Điều 427, Điều 428, Điều 429, Điều 430.

Các quy định trên nhằm cụ thể hoá quy tắc kim chỉ nam quan trọng trong quy định liên quan đến trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật được ghi nhận tại Điều 40 Công ước liên hợp quốc về quyền trẻ em: “Mọi trẻ em bị cáo buộc, buộc tội, hoặc bị coi là vi phạm luật hình sự đều có quyền được đối xử phù hợp với sự phát triển ý thức về nhân phẩm và phẩm chất của trẻ. Sự phát triển ý thức đó giúp tăng thêm ý thức tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản của người khác, và giúp xem xét khía cạnh lứa tuổi của trẻ và mong muốn của chúng về sự tái hòa nhập cộng đồng”.

2. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:

– Phải đảm bảo tốt nhất lợi ích của người dưới 18 tuổi và chủ yếu dựa vào mục đích giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội;

– Căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm;

– Việc truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm;

– Toà án chỉ áp dụng hình phạt nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa;

– Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội;

– Chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Và áp dụng hình phạt với mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất đồng thời không áp dụng hình thức xử phạt bổ sung;

– Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

Do đó, để nêu cao tinh thần giáo dục cao đối với người dưới 18 tuổi phạm tội hơn là trừng phạt, Bộ luật hình sự năm 2015 đã có các quy định về điều kiện miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi.

Điều kiện để người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

Thứ nhất, người dưới 18 tuổi khi phạm tội nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục hậu quả;

Thứ hai, người dưới 18 tuổi phạm tội không thuộc trường hợp có căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29;

Thứ ba, người đó thực hiện tội phạm trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự như sau:

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, trừ Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

– Người dưới 18 tuổi là đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

Người dưới 18 tuổi khi có đủ các điều kiện nêu trên được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự.

Nhựt Anh

Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổiNếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật