Khám xét là hoạt động điều tra quan trọng nhằm tìm kiếm dấu vết tội phạm, vật chứng hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, do tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân, hoạt động này phải được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật và tuân thủ các điều kiện, trình tự nhất định. Bài viết sau đây của Luật Emerald sẽ làm rõ các quy định pháp luật về căn cứ, thẩm quyền và trình tự thực hiện hoạt động khám xét theo Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành.
1. Căn cứ khám xét
Khám xét là biện pháp cưỡng chế tác động đến các quyền con người, quyền của công dân nên chỉ được thực hiện khi có đầy đủ những căn cứ do pháp luật quy định. Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định căn cứ để khám xét như sau:
– Đối với khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện: chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định bên trong có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
– Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
– Đối với khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử: chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định bên trong có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án.
2. Thẩm quyền ra lệnh khám xét
Theo quy định tại Điều 193 Bộ luật Tố tụng hình sự, người có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam có quyền ra lệnh khám xét, đó là:
– Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh khám xét phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
– Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
– Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Hội đồng xét xử.
Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng được quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án.
3. Khám xét người

Khám xét người là hoạt động xem xét, tìm kiếm trên người của đối tượng những vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án. Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có người khác cùng giới chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét. Trình tự thủ tục được quy định tại Điều 194 bộ luật Tố tụng hình sự:
Trường hợp cần có lệnh khám xét người:
- Người thi hành lệnh khám xét đọc lệnh và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị khám xét và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.
- Yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án.
- Nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.
Trường hợp không cần có lệnh khám xét:
- Trong trường hợp bắt người; hoặc
- Khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
4. Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện
Khi tiến hành khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xét xong. Những người phải có mặt trong khi thi hành lệnh khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện được quy định tại Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể:

Khám xét chỗ ở của một người:
– Đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn;
– Người chứng kiến;
– Người có chỗ ở bị khám xét hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở. Nếu cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và hai người chứng kiến.
Về thời gian tiến hành khám xét chỗ ở, không được bắt đầu vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Khám xét nơi làm việc của một người:
– Người có nơi làm việc bị khám xét (trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản).
– Đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc.
– Nếu không có đại diện cơ quan, tổ chức thì phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và 02 người chứng kiến.
Khám xét địa điểm:
– Đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét;
– Người chứng kiến.
Khám xét phương tiện:
– Người chứng kiến;
– Chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện. Nếu vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì phải có hai người chứng kiến;
– Có thể mời người có chuyên môn liên quan đến phương tiện tham gia khám xét.
Phan Văn Có
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Quy định về khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.