Tạm đình chỉ ở các giai đoạn kết luận điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử được các cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện khi rơi vào trường hợp do luật định. Vậy, căn cứ tạm đình chỉ trong các giai đoạn này như thế nào? Phục hồi điều tra cần có các điều kiện ra sao? Quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé.
1. Tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trong giai đoạn kết luận điều tra
1.1. Căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án trong giai đoạn kết luận điều tra
– Chủ thể thực hiện: Cơ quan điều tra;
– Căn cứ tạm đình chỉ: khi vụ án rơi vào một trong các trường hợp
- Khi đã hết thời hạn điều tra vụ án nhưng chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu.
(Lưu ý: Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ);
- Có thể tạm đình chỉ trước khi hết thời hạn điều tra, nhưng có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo
- Khi đã hết thời hạn điều tra nhưng trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả.
(Lưu ý: việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả).
– Trường hợp một vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can thì có thể tạm đình chỉ đối với từng bị can.
1.2. Thời hạn thông báo, gửi quyết định việc tạm đình chỉ điều tra vụ án
Khi ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, trong thời hạn 02 ngày, Cơ quan điều tra phải:
– Gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can;
– Thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ.
1.3. Phục hồi điều tra
– Chủ thể thực hiện: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát
– Căn cứ:
- Nếu có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Nếu việc điều tra bị tạm đình chỉ thuộc trường hợp vụ án không được khởi tố do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc tội phạm đã được đại xá mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định phục hồi điều tra.
– Khi đã ra quyết định phục hồi điều tra, trong thời hạn 02 ngày, Cơ quan điều tra phải:
- Gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can;
- Thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

2. Tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố
2.1. Căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án trong giai đoạn truy tố
– Chủ thể thực hiện: Viện kiểm sát;
– Căn cứ tạm đình chỉ:
- Trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố mà có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo;
- Bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố;
(Lưu ý: phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ vụ án);
- Đã hết thời hạn quyết định việc truy tố nhưng trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp mà chưa có kết quả;
(Lưu ý: việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp tiếp tục tiến hành cho đến khi có kết quả);
– Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can thì tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
2.2. Phục hồi điều tra vụ án
– Chủ thể thực hiện: Viện kiểm sát;
– Điều kiện:
- Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Nếu việc điều tra bị tạm đình chỉ thuộc trường hợp vụ án không được khởi tố do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc tội phạm đã được đại xá mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định phục hồi điều tra.
– Có thể phục hồi đối với toàn bộ vụ án hoặc phục hồi vụ án đối với từng bị can.
2.3. Thời hạn thông báo, gửi quyết định phục hồi điều tra vụ án
Trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, Viện kiểm sát phải:
– Giao quyết định phục hồi vụ án hoặc quyết định phục hồi vụ án đối với bị can cho bị can hoặc người đại diện của bị can;
– Gửi cho cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, người bào chữa;
– Thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

3. Tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
3.1. Căn cứ tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
– Chủ thể thực hiện: Thẩm phán;
– Căn cứ tạm đình chỉ: Khi vụ án rơi vào một trong các trường hợp
- Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo trước khi hết thời hạn điều tra;
- Khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra;
(Lưu ý: việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả);
- Hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu;
(Lưu ý: trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án);
- Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị.
– Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để tạm đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
3.2. Phục hồi điều tra
– Chủ thể thực hiện: Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ; Chánh án;
– Điều kiện:
- Khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án;
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
– Trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ đối với từng bị can, bị cáo thì ra quyết định phục hồi vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
Nhựt Anh
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Tạm đình chỉ trong tố tụng hình sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.