Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm

25/12/2024
Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm

Khi quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm, khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2021 quy định như sau:

Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:

a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;

b) Sửa bản án sơ thẩm;

c) Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;

d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án;

đ) Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.”

Như vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã được trao thẩm quyền lớn trong việc can thiệp vào nội dung của bản án cấp sơ thẩm. Những quyền hạn này được quy định chi tiết ra sao? Hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé.

1. Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm

Theo quy định tại Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi xét thấy các quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

thẩm quyền

2. Sửa bản án sơ thẩm

Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thẩm quyền của Hội đồng xét xử khi xét thấy có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới thì có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:

– Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;

– Áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn;

– Giảm hình phạt cho bị cáo;

– Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;

– Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;

– Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.

Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể:

– Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp;

– Tăng mức bồi thường thiệt hại;

– Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;

– Không cho bị cáo hưởng án treo.

Nếu có căn cứ thì Hội đồng xét xử vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại.

Lưu ý: Trường hợp có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều này cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.

3. Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại

Căn cứ pháp lý: Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khi rơi vào các trường hợp được liệt kê trong bảng dưới đây, Hội đồng xét xử huỷ bản án để điều tra lại hoặc xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới.

Điều tra lại

Xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới

– Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm;

– Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được;

– Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố.

– Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật này quy định;

– Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm;

– Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội;

– Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo không có căn cứ;

– Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án.

Những lưu ý của Hội đồng xét xử phúc thẩm khi huỷ bản án sơ thẩm:

– Phải ghi rõ lý do của việc hủy bản án sơ thẩm.

– Khi hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm không quyết định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải bác bỏ, cũng như không quyết định trước về điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự cần áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.

– Nếu thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.

– Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên hủy bản án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.

4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

Theo quy định tại Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi có một trong các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự sau đây thì Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án:

– Không có sự việc phạm tội;

– Hành vi không cấu thành tội phạm.

Còn khi có một trong các căn cứ sau, Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án:

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

– Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

– Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

– Tội phạm đã được đại xá;

– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

Đình chỉ điều tra vụ án hình sự

5. Đình chỉ xét xử phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc đình chỉ xét xử phúc thẩm diễn ra khi kháng cáo, kháng nghị bị rút toàn bộ. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định.

Trước khi mở phiên toà, nếu kháng cáo, kháng nghị bị rút một phần mà không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo, kháng nghị đã rút.

Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Lưu ý: Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đình chỉ cho Viện kiểm sát cùng cấp, Tòa án đã xét xử sơ thẩm, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.

Xem thêm: Kháng cáo bản án, quyết định hình sự sơ thẩm

Phan Văn Có

Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm”Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật