Chứng cứ, chứng minh trong trong tố tụng dân sự đóng một vai trò rất quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, cũng như chứng minh được yêu cầu của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Khi nộp đơn khởi kiện thì có cần nộp các chứng cứ, chứng minh kèm theo hay không? Để hiểu rõ hơn về chứng cứ, chứng minh kèm theo đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam, quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé.
1. Chứng cứ trong vụ việc dân sự
1.1. Chứng cứ là gì?
Theo quy định tại Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.
1.2. Chứng cứ được thu thập từ các nguồn nào?
Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
– Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử;
– Vật chứng;
– Lời khai của đương sự;
– Lời khai của người làm chứng;
– Kết luận giám định;
– Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
– Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;
– Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập;
– Văn bản công chứng, chứng thực;
– Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

2. Nghĩa vụ chứng minh trong vụ việc dân sự
Bộ luật tố tụng dân sự không định nghĩa chứng minh trong vụ việc dân sự là gì nhưng có quy định rõ nghĩa vụ chứng minh đối với các đương sự. Đây là một trong những quy định quan trọng nhằm giúp cho các đương sự có cơ sở xác định được nghĩa vụ của mình khi có yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Nếu đương sự không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và Tòa án không thể thu thập chứng cứ thì có khả năng đương sự sẽ bị Tòa án bác yêu cầu.
Vì vậy, nghĩa vụ chứng minh được quy định cụ thể tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:
– Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây:
+ Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
+ Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án;
+ Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh.
– Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
– Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
– Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
Mặt khác, dựa theo quy định nêu trên, người khởi kiện không phải trong mọi trường hợp đều phải là người có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình.

3. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định việc quy định cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự như sau:
– Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
– Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp mà Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định.
4. Nộp đơn khởi kiện có cần nộp kèm theo chứng cứ, chứng minh hay không?
Theo quy định tại khoản 5 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, khi nộp đơn khởi kiện thì phải kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào cũng bắt buộc người khởi kiện phải nộp kèm theo chứng cứ, chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình mà có các trường hợp được loại trừ, các trường hợp này đã được nêu ở phần nghĩa vụ chứng minh. Nếu thuộc một trong các trường hợp này thì người khởi kiện khi nộp đơn nếu có thêm tài liệu, giấy tờ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì nộp kèm theo.
Bên cạnh đó, theo văn bản giải đáp số 01/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao thì trường hợp người khởi kiện không nộp kèm theo bất cứ các tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh thì phải có văn bản tường trình, giải thích lý do không có tài liệu, chứng cứ để nộp Tòa án hoặc không thể thu thập được tài liệu, chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ. Trong trường hợp này, nếu lý do việc không nộp được tài liệu, chứng cứ là chính đáng thì Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Do đó, theo nguyên tắc khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện thì phải kèm theo chứng cứ, chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Nhưng nếu như người khởi kiện thuộc một trong các trường hợp không có nghĩa vụ phải chứng minh hoặc có đơn giải trình lý do không có tài liệu để nộp Tòa án thì người khởi kiện không cần phải nộp chứng cứ, chứng minh kèm theo đơn khởi kiện.
Mỹ Duyên
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Chứng cứ, chứng minh kèm theo đơn khởi kiện”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, các bạn có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.