Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp, gây thiệt hại cho người khác. Vậy pháp luật quy định như thế nào về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng? Hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là trách nhiệm dân sự phát sinh khi chủ thể có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác, gây ra thiệt hại mà giữa các bên không tồn tại quan hệ hợp đồng hoặc thiệt hại xảy ra không liên quan đến nội dung của hợp đồng đã giao kết.

2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là cơ sở pháp lý để xác định khi nào một cá nhân, tổ chức phải chịu trách nhiệm dân sự do hành vi gây thiệt hại của mình. Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, để trách nhiệm này phát sinh cần dựa trên bốn yếu tố sau:
– Có hành vi trái pháp luật
– Có thiệt hại thực tế xảy ra
– Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại
– Có lỗi của người gây thiệt hại
2.1. Có hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật có thể được hiểu là một cá nhân, tổ chức làm một việc mà pháp luật cấm, không làm một việc mà pháp luật bắt buộc phải làm, hoặc làm một việc vượt quá giới hạn khuôn khổ pháp luật cho phép.

2.2. Có thiệt hại thực tế xảy ra
Thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ.
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: Thông thường, khi tài sản bị xâm phạm, việc xác định thiệt hại thường dễ dàng bởi vì sự thiệt hại về tài sản thì luôn luôn được định giá một cách cụ thể, hơn nữa thiệt hại về tài sản phần lớn là sự mất mát, hư hỏng, hoặc tài sản bị hủy hoại nên thường có số liệu cụ thể như hóa đơn, chứng từ mua bán.
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm các chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Ngoài ra còn phải bồi thường thêm một khoản tiền về tổn thất tinh thần mà người đó phải gánh chịu. Trong trường hợp có những khoản chi phí không thể có hóa đơn, như chi phí thuê phương tiện đưa người bị nạn đi cấp cứu. Hội đồng xét xử thường căn cứ vào hoàn cảnh thực tế và mức chi phí hợp lý mà người bị thiệt hại đã bỏ ra để xem xét.
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm: chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng; và khoản bù đắp tổn thất tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: Bao gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại và thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Ngoài ra, người gây thiệt hại có thể bị buộc xin lỗi công khai và bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị xâm phạm. Mức bồi thường tổn thất tinh thần trong trường hợp này không vượt quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Như vậy, tùy theo loại quyền, lợi ích bị xâm phạm mà pháp luật quy định các căn cứ xác định thiệt hại khác nhau. Việc xác định đúng và đầy đủ các khoản thiệt hại là cơ sở quan trọng để bảo đảm quyền lợi chính đáng của người bị thiệt hại.
2.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại
Giữa hành vi xâm phạm và thiệt hại phải tồn tại mối quan hệ nhân quả trực tiếp. Nghĩa là, thiệt hại phải là hậu quả tất yếu của hành vi trái pháp luật, và hành vi đó là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại. Mối quan hệ nhân quả là yếu tố bắt buộc để xác định trách nhiệm bồi thường, giúp làm rõ ai là người phải chịu trách nhiệm pháp lý. Nếu thiệt hại xảy ra do nguyên nhân khác, không do hành vi trái pháp luật gây ra thì không thể phát sinh trách nhiệm bồi thường.

2.4. Có lỗi của người gây ra thiệt hại
Lỗi là trạng thái tâm lý và nhận thức của người gây thiệt hại đối với hành vi trái pháp luật và hậu quả của nó. Đây là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường có thuộc về người gây ra thiệt hại hay không. Tùy vào hình thức và mức độ lỗi là cố ý hay vô ý, pháp luật sẽ có quy định tương ứng về phạm vi, mức độ và cách thức bồi thường nhằm bảo đảm tính công bằng trong quan hệ dân sự.
Bên cạnh yếu tố lỗi, pháp luật còn đặt ra yêu cầu về năng lực hành vi dân sự của người gây thiệt hại. Chỉ những người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình mới phải tự chịu trách nhiệm bồi thường.
Người chưa đủ năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ như cha mẹ hoặc người giám hộ phải chịu trách nhiệm bồi thường thay, trừ khi chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám sát.
Người có đủ năng lực hành vi dân sự thì phải tự chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do mình gây ra.
Ví dụ: A điều khiển xe máy vượt đèn đỏ, xảy ra va chạm làm B bị thương. A có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Trong trường hợp này, A đã phạm lỗi cố ý do quá tự tin, hành vi vượt đèn đỏ của A cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại về sức khỏe cho B, nên A phải chịu trách nhiệm bồi thường. Nhưng nếu A vượt đèn đỏ, B bị thương do trượt ngã vì đường trơn chứ không phải do hành vi của A, thì không có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của A và thiệt hại của B, nên A không phải bồi thường.

Tóm lại, không phải mọi thiệt hại xảy ra đều làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong một số trường hợp, pháp luật vẫn sẽ loại trừ trách nhiệm này, chẳng hạn như thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại. Những trường hợp này cho thấy việc xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi người bị thiệt hại, mà còn bảo đảm tính công bằng trong quan hệ dân sự.
Thúy My
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Căn cứ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.