Nghĩa vụ bảo hành trong Bộ luật Dân sự Việt Nam

26/02/2026
Nghĩa vụ bảo hành trong Bộ luật Dân sự Việt Nam

Nghĩa vụ bảo hành là một chế định quan trọng trong hợp đồng mua bán, góp phần bảo đảm chất lượng hàng hóa và ổn định giao lưu dân sự. Trong Bộ luật Dân sự 2015, nghĩa vụ bảo hành được quy định tại các Điều 446 – 449 với tư cách là một nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng đặc biệt. Trong giao dịch dân sự, chất lượng tài sản là yếu tố cốt lõi quyết định giá trị của hợp đồng mua bán. Trên thực tế cho thấy tài sản có thể phát sinh khuyết tật sau khi giao cho bên mua. Để xử lý các trường hợp này, pháp luật dân sự thiết lập nghĩa vụ bảo hành nhằm đảm bảo tài sản phù hợp với cam kết về chất lượng sản phẩm trong một thời hạn nhất định. Hiểu rõ quy định pháp luật về nghĩa vụ bảo hành là rất quan trong nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên mua, tránh các trường hợp tiền mất tật mang. Sau đây, mời các bạn tìm hiểu về nội dung “Nghĩa vụ bảo hành trong bộ luật dân sự”. 

1. Nghĩa vụ bảo hành là gì?

Căn cứ theo Điều 445 và Điều 446 Bộ luật dân sự 2015, Nghĩa vụ bảo hành là một trong các nghĩa vụ của bên bán thông qua việc đảm bảo chất lượng vật mua bán trong một thời hạn nhất định theo đúng như thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Bảo đảm chất lượng vật mua bán là việc bên bán phải đảm bảo giá trị sử dụng hoặc các đặc tính của vật mua bán; nếu sau khi mua mà bên mua phát hiện khuyết tật làm mất giá trị hoặc giảm sút giá trị sử dụng của vật đã mua thì phải báo ngay cho bên bán khi phát hiện ra khuyết tật và có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác, giảm giá và bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Các hình thức bảo hành bao gồm:

(i) Sửa chữa

Căn cứ theo Điều 448 Bộ luật dân sự 2015, Sửa chữa vật trong thời hạn bảo hành được thể hiện qua các khía cạnh:

-Bên bán phải sửa chữa vật và bảo đảm vật có đủ các tiêu chuẩn chất lượng hoặc có đủ các đặc tính đã cam kết.

-Bên bán chịu chi phí về sửa chữa và vận chuyển vật đến nơi sửa chữa và từ nơi sửa chữa đến nơi cư trú hoặc trụ sở của bên mua.

-Bên mua có quyền yêu cầu bên bán hoàn thành việc sửa chữa trong thời hạn do các bên thỏa thuận hoặc trong một thời gian hợp lý; nếu bên bán không thể sửa chữa được hoặc không thể hoàn thành việc sửa chữa trong thời hạn đó thì bên mua có quyền yêu cầu giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền.

(ii) Đổi vật có khuyết tật lấy vật khác

(iii) Giảm giá

(iv) Bồi thiệt thiệt hại (nếu có)

Tại Điều 449 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành:

-Ngoài việc yêu cầu thực hiện các biện pháp bảo hành, bên mua có quyền yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do khuyết tật về kỹ thuật của vật gây ra trong thời hạn bảo hành.

-Bên bán không phải bồi thường thiệt hại nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên mua. Bên bán được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu bên mua không áp dụng các biện pháp cần thiết mà khả năng cho phép nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại.

Vậy, thế nào là sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật?

Sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật là sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm sản phẩm, hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng mặc dù sản phẩm, hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật hiện hành, bao gồm:

a) Sản phẩm, hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; 

Ví dụ, Công ty Mỹ phẩm & Thiết bị gia dụng X ra mắt dòng máy sấy tóc SB-3000 với 15.000 sản phẩm kèm cam kết “công nghệ sấy nhanh, an toàn tuyệt đối cho tóc và da đầu”. Tuy nhiên, vài phản ánh của người mua cho rằng nhiệt quá cao, có trường hợp ghi nhận các tia lửa nhỏ phát ra từ đầu sấy trong quá trình hoạt động. Sau khi yêu cầu bộ phận kỹ thuật kiểm tra, xác định linh kiện biến nhiệt bị sai thông số, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ và gây bỏng cho người dùng. Đây là hàng hóa sản xuất hàng luật có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật.

b) Sản phẩm, hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ và sử dụng;

Ví dụ, Công ty A bán thực phẩm đông lạnh cho chị B tại phường X. Công ty A nhờ nhân viên công ty giao hàng đến cho chị B có địa chỉ cách công ty 60km. Do đoạn đường xa kèm theo nhân viên công ty không tuân thủ đúng cách thức bảo quản hàng hóa đông lạnh khi giao cộng thêm thời tiết nắng nóng khiến cho thực phẩm đông lạnh xuất hiện mùi ôi thiu. Do đó, thực phẩm đông lạnh này là hàng hóa có khuyết tật phát sinh từ quá trình vận chuyển của nhà sản xuất. 

c) Sản phẩm, hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng.

Ví dụ, Hãng xe honda Z ra mắt dòng xe điện 36V. Tuy nhiên, dòng xe này có nhược điểm về việc khi sạc xe, người dùng phải sử dụng bộ chuyển đổi Vôn nhằm cung cấp điện cho bình sạc một cách ổn định. Khi bà X mua xe này về, hãng xe đã không hướng dẫn cũng như cảnh cáo đầy đủ cho bà X. Do đó, khi sử dụng chiếc xe điện đã gây chập điện và phát nổ. Đây là loại hàng hóa khuyết tật gây mất an toàn trong quá trình sử dụng mà không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ. 

Điều kiện phát sinh nghĩa vụ bảo hành là gì? 

Thứ nhất, các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định về việc bảo hành. Việc thỏa thuận phát sinh khi thực hiện giao dịch dân sự mua bán. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 119 Bộ luật dân sự 2015, giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Do đó, việc xác lập bảo hành không bắt buộc phải có văn bản giữa các bên mà có thể được thể hiện bằng lời nói và hành vi cụ thể. 

Thứ hai, yêu cầu bảo hành phát sinh trong thời hạn bảo hành mà hai bên đã thỏa thuận. 

Thứ ba, vật mua bán không thuộc các trường hợp bên bán không chịu trách nhiệm về khuyết tật của hàng hóa quy định tại Khoản 3 Điều 445 Bộ Luật dân sự 2015, bao gồm: 

a) Khuyết tật mà bên mua đã biết hoặc phải biết khi mua;

b) Vật bán đấu giá, vật bán ở cửa hàng đồ cũ;

c) Bên mua có lỗi gây ra khuyết tật của vật.   

Nghĩa vụ bảo hành

2. Quyền yêu cầu bảo hành 

Căn cứ theo Điều 447 Bộ luật dân sự 2015 – Quyền yêu cầu bảo hành của bên mua, nếu bên mua phát hiện được khuyết tật của vật mua bán thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền.

3. Thời hạn bảo hành

Thời hạn bảo hành được tính kể từ thời điểm bên mua có nghĩa vụ phải nhận vật, tức là lúc bên bán chuyển giao hàng hóa cho bên mua quy định tại Điều 446 Bộ Luật dân sự 2015. 

Tại Bộ Luật dân sự 2015 không quy định rõ về thời hạn bảo hành, bởi việc bảo hành vật mua bán chỉ phát sinh khi có thỏa thuận và pháp luật có quy định. Tuy nhiên, pháp luật dân sự hiện nay chưa có quy định về trường hợp bắt buộc phải bảo hành và phải bảo hành trong bao lâu. Do đó, các bên sẽ tự thỏa thuận về thời hạn nhằm đảm bảo sự linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật cũng như phù hợp điều kiện thực tế của các bên. 

4. Nghĩa vụ Bảo hành đối với hoạt động thương mại 

Không chỉ Bộ luật dân sự quy định về nghĩa vụ bảo hành, Căn cứ theo Điều 49 Luật thương mại 2005 sửa đổi bổ sung 2025, trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận. Nội dung của Luật Thương mại 2005 có sự tương thích với Bộ luật dân sự 2015 về nghĩa vụ bảo hành.  Nghĩa vụ bảo hành của bên bán phải thực hiện trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép. Điều này có thể dễ hiểu bởi các bên trong hoạt động mua bán trong trường hợp này đều là thương nhân, khuyết tật của hàng hóa ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thương mại của các bên, do đó cần thực hiện bảo hành trong thời gian sớm nhất nhằm đảm bảo quá trình kinh doanh của bên mua. Trong trường hợp thông thường, các chi chi về việc bảo hành do bên bán chịu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Quy định về nghĩa vụ bảo hành đối với hoạt động thương mại chỉ được thể hiện tại một Điều duy nhất trong Luật Thương Mại – Điều 49 Nghĩa vụ bảo hành hàng hóa. Tuy nhiên, không vì vậy mà việc áp dụng bảo hành đối với các thương nhân là lỏng lẻo, thiếu cơ sở pháp lý. Bởi, việc mua bán hàng hóa trong các trường hợp này được thể hiện rất rõ thông qua các hợp đồng và phụ lục hợp đồng. Do đó, các biện pháp bảo hành cũng sẽ được ràng buộc rất cụ thể tại các Điều Khoản trong hợp đồng giữa các bên. Ngoài ra, nếu trong trường hợp cả hợp đồng và Luật thương mại đều không quy định trong trường hợp thực tế đó, các bên vẫn có thể áp dụng Bộ luật Dân sự. 

Tóm lại, nghĩa vụ bảo hành trong bộ luật dân sự thể hiện rõ nghĩa vụ của bên bán trong các giao dịch dân sự. Có nhiều hình thức bảo hành, phụ thuộc vào điều kiện thực tế để các bên lựa chọn đối với từng trường hợp thực tế. Ngoài ra, cần đáp ứng đủ các điều kiện để được bảo hành nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp một cách tốt nhất. Nghĩa vụ bảo hành trong Bộ Luật dân sự 2015 là một nghĩa vụ hợp đồng đặc biệt, có chức năng bảo đảm chất lượng tài sản và duy trì niềm tin trong giao lưu dân sự, bên cạnh đó cơ chế này còn thể hiện hàm ý mong muốn “sửa sai” của bên bán nhằm ổn định uy tín. Tuy nhiên cần lưu ý rằng bảo hành là nghĩa vụ dân sự, không phải trách nhiệm dân sự tránh áp dụng lẫn lộn các quy định pháp luật. 

Diễm Quỳnh 

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Nghĩa vụ bảo hành trong Bộ luật dân sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline: 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website: emeraldlawfirm.vn hoặc email: emerald.VAA@gmail.com để được đội ngũ luật sư của Luật Emerald hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tư vấn pháp luật