Trong quan hệ dân sự, việc xác định thiệt hại có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo cơ sở cho việc bồi thường và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể bị xâm phạm. Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đã quy định tương đối cụ thể về các loại thiệt hại có thể phát sinh khi quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm. Mỗi loại thiệt hại đều có những căn cứ và cách thức xác định riêng, phản ánh mức độ tổn thất về vật chất cũng như tinh thần mà chủ thể bị thiệt hại phải gánh chịu, qua đó làm cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tiễn đôi khi xuất hiện những cách hiểu sai lệch, chẳng hạn quan niệm trong một số vụ tai nạn giao thông cho rằng “thà cán chết người còn hơn để người đó bị thương tật phải bồi thường cả đời”. Thực tế, nếu người gây tai nạn cố ý tước đoạt tính mạng của nạn nhân, hành vi này không chỉ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo BLDS 2015 mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giết người theo Điều 123 của Bộ luật Hình sự 2015 với chế tài đặc biệt nghiêm khắc. Để hiểu rõ hơn về vấn đề “Xác định thiệt hại” trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, mời Quý vị cùng theo dõi bài viết dưới đây.
I. Xác định thiệt hại trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
“Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:
1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.
2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.
3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.
4. Thiệt hại khác do luật quy định.”
Điều 589 BLDS 2015 quy định về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được xác định bao gồm nhiều khoản, nhằm phản ánh một cách đầy đủ tổn thất mà chủ thể có thể phải gánh chịu. Cụ thể, thiệt hại không chỉ bao gồm giá trị của tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng mà còn bao gồm lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất hoặc bị giảm sút. Đồng thời, các chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại cũng được tính vào phạm vi thiệt hại. Ngoài ra, điều luật còn mở rộng bằng việc ghi nhận các thiệt hại khác do pháp luật quy định nhằm bảo đảm việc bồi thường thiệt hại được xác định đầy đủ và phù hợp với thực tế.
Việc xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cũng được quy định rõ tại Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, tương ứng với từng khoản tại Điều 589 BLDS 2015 như sau:
“1. Việc bồi thường thiệt hại do tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng quy định tại khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự căn cứ vào thỏa thuận của các bên, trường hợp không thỏa thuận được thì xác định thiệt hại như sau:
a) Trường hợp tài sản là vật thì xác định thiệt hại đối với tài sản bị mất, bị hủy hoại căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản bị mất, bị hủy hoại tại thời điểm giải quyết bồi thường.
Đối với tài sản là tiền thì thiệt hại được xác định là số tiền bị mất, bị hư hỏng.
Đối với giấy tờ có giá bị mất, bị hư hỏng mà không thể khôi phục được thì thiệt hại được xác định là giá trị của các giấy tờ bị mất, bị hư hỏng tại thời điểm giải quyết bồi thường. Trường hợp giấy tờ có giá bị mất, bị hư hỏng mà có thể khôi phục được thì thiệt hại được xác định là các chi phí cần thiết để khôi phục các giấy tờ đó.
b) Đối với tài sản bị hư hỏng, thiệt hại là chi phí để sửa chữa, khôi phục lại tình trạng tài sản trước khi bị hư hỏng theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để xác định thiệt hại; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều này.
Trước hết, mức bồi thường được ưu tiên xác định theo thỏa thuận của các bên, nếu các bên không có thỏa thuận thì mức thiệt hại được xác định dựa trên giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm giải quyết bồi thường. Cụ thể, đối với vật thì căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc có tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương; đối với tiền thì thiệt hại chính là số tiền bị mất hoặc hư hỏng; đối với giấy tờ có giá thì thiệt hại được xác định theo giá trị của giấy tờ đó hoặc chi phí cần thiết để khôi phục khi bị mất hoặc hư hỏng. Trường hợp tài sản bị hư hỏng, thiệt hại được tính theo chi phí sửa chữa, khôi phục tài sản về tình trạng ban đầu; nếu không thể sửa chữa thì xác định như trường hợp tài sản bị mất hoặc bị hủy hoại.
Khoản 2 Điều 6 NQ 02/2022/NQ-HĐTP đã quy định cụ thể đối với trường hợp lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút được quy định tại khoản 2 Điều 589 BLDS 2015 như sau:
“2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút quy định tại khoản 2 Điều 589 của Bộ luật Dân sự là hoa lợi, lợi tức mà người bị thiệt hại đang hoặc sẽ thu được nếu tài sản không bị mất, bị hư hỏng.
Hoa lợi, lợi tức được tính theo giá thực tế đang thu, nếu chưa thu thì theo giá thị trường cùng loại hoặc mức giá thuê trung bình 01 tháng của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiệt hại; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, hoa lợi, lợi tức được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình của 03 tháng liền kề do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra.”
Lợi ích ở đây được hiểu là hoa lợi, lợi tức mà người bị thiệt hại đang hoặc lẽ ra sẽ thu được nếu tài sản không bị mất hoặc hư hỏng. Khi xác định thiệt hại, nếu tài sản đang tạo ra thu nhập thì hoa lợi, lợi tức được tính theo mức thu nhập thực tế mà tài sản đang mang lại; trường hợp chưa phát sinh thu nhập thì có thể căn cứ vào giá thị trường hoặc mức giá thuê trung bình của tài sản cùng loại tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ việc. Đối với những tài sản trên thị trường không có hoạt động cho thuê, hoa lợi, lợi tức có thể được xác định dựa trên thu nhập trung bình của ba tháng liền kề trước khi xảy ra thiệt hại trong điều kiện khai thác bình thường.
Ví dụ: Anh A có một chiếc xe tải dùng để vận chuyển hàng hóa bị người khác làm hư hỏng nặng và phải sửa chữa trong một tháng, khiến anh A không thể sử dụng để vận chuyển và làm mất đi nguồn thu đáng lẽ ra anh A sẽ được nhận nếu chiếc xe không bị hư hỏng. Trong trường hợp này, ngoài chi phí sửa chữa, phần thu nhập trung bình mà anh A bị mất trong khoảng thời gian không thể khai thác công dụng của chiếc xe cũng được xem là thiệt hại cần được bồi thường.
Về phần chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại cũng được làm rõ và có ví dụ minh họa tại khoản 3 Điều 6 NQ 02/2022/NQ-HĐTP như sau:
3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại quy định tại khoản 3 Điều 589 của Bộ luật Dân sự là những chi phí thực tế, cần thiết tại thời điểm chi trong điều kiện bình thường cho việc áp dụng các biện pháp cần thiết làm cho thiệt hại không phát sinh thêm; sửa chữa, khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản bị xâm phạm.
Ví dụ: T đã có hành vi làm cháy nhà của H. Chi phí dập tắt đám cháy là X đồng; chi phí sửa chữa, khôi phục lại nhà như tình trạng ban đầu là Y đồng. Trường hợp này, X đồng là chi phí để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Y đồng là chi phí khắc phục thiệt hại.”
2. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
“Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;
c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Trước hết, Điều 590 BLDS 2015 quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nhằm bù đắp những tổn thất vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Theo đó, thiệt hại bao gồm các chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng và phục hồi sức khỏe, như chi phí khám chữa bệnh, đi lại hoặc phục hồi chức năng. Bên cạnh đó, người gây thiệt hại còn phải bồi thường thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu thu nhập không ổn định thì có thể xác định dựa trên thu nhập trung bình của lao động cùng loại.
Ngoài ra, pháp luật cũng ghi nhận chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại, đặc biệt trong trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần người chăm sóc thường xuyên. Đồng thời, ngoài các thiệt hại vật chất, người gây thiệt hại còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (2.340.000 đồng/tháng căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 73/2024/NĐ-CP). Các nội dung này được hướng dẫn chi tiết hơn tại Điều 7 của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP như sau:
“Điều 7. Về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 590 của Bộ luật Dân sự
1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm:
a) Chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh cho người bị thiệt hại; thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở;
b) Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án;
c) Chi phí phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút là các chi phí cho việc phục hồi, hỗ trợ, thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại.”
Thứ nhất, chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe bao gồm các khoản chi cần thiết để điều trị và khắc phục hậu quả của hành vi xâm phạm đến sức khỏe. Ví dụ, một người bị tai nạn giao thông phải nhập viện điều trị 10 ngày, phát sinh các khoản như viện phí, tiền thuốc, chi phí chụp chiếu, tiền taxi đưa từ nơi xảy ra tai nạn đến bệnh viện và từ bệnh viện về nhà. Ngoài ra, trong thời gian nằm viện, người này còn cần chi phí bồi dưỡng sức khỏe và sau khi xuất viện phải tập vật lý trị liệu để phục hồi chức năng chân bị chấn thương. Những khoản chi phí hợp lý này đều được xem là thiệt hại cần được bồi thường.
“2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được xác định như sau:
a) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công thì được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;
b) Trường hợp người bị thiệt hại có thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra. Trường hợp không xác định được 03 tháng lương liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra thì căn cứ vào thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại.
Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày.”
Tiếp đến, đối với thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại, thiệt hại được xác định dựa trên thu nhập mà người đó không thể kiếm được do phải điều trị. Chẳng hạn, một nhân viên văn phòng có mức lương cố định 10 triệu/tháng bị tai nạn và phải nghỉ làm trong 02 tháng để điều trị. Trong thời gian này, người đó không thể làm việc và không có thu nhập, do đó khoản tiền lương bị mất trong 02 tháng được xem là phần thiệt hại phải được bồi thường. Trong trường hợp người bị thiệt hại làm nghề tự do với mức thu nhập không ổn định, thì mức thu nhập bị mất được xác định dựa trên thu nhập trung bình của 03 tháng liền kề. Trong các trường hợp khác có thể xác định thu nhập dựa trên mức lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú.
“3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự được xác định như sau:
a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi người bị thiệt hại điều trị (nếu có);
b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều này;
c) Trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và phải có người thường xuyên chăm sóc thì chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại.”
Bên cạnh các chi phí và phần thu nhập phải được bồi thường của người bị thiệt hại, người chăm sóc người bị thiệt hại cũng được bồi thường các chi phí hợp lý và phần thu nhập bị mất trong quá trình hỗ trợ điều trị. Ví dụ, chị B bị tai nạn phải nằm viện 10 ngày, chị B không thể tự chăm sóc mình nên chồng chị là anh A phải nghỉ làm để ở lại bệnh viện chăm sóc. Trong thời gian đó anh A có chi các khoản như tiền đi lại, tiền ăn ở bệnh viện. Những khoản chi này được xem là chi phí hợp lý cần được bồi thường. Ngoài ra, trong trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động cần có người chăm sóc lâu dài tại nhà, chi phí thuê người chăm sóc hoặc khoản chi tương đương cho việc chăm sóc hàng ngày cũng được tính vào phần thiệt hại cần được bồi thường.

3. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Theo quy định tại Điều 591 BLDS 2015, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm được xác định nhằm bù đắp những tổn thất vật chất và tinh thần phát sinh khi một người bị xâm phạm dẫn đến tử vong, cụ thể như sau:
“Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Bên cạnh việc bồi thường các thiệt hại về vật chất như: thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, chi phí hợp lý cho việc mai táng (được quy định rõ trong NQ 02/2022/NQ-HĐTP), trách nhiệm bồi thường còn bao gồm khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. Theo khoản 1 Điều 107 Luật HN và GĐ năm 2014, nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các chủ thể trên cơ sở quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, cụ thể: “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này”.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 591 còn quy định người gây thiệt hại phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích của người bị thiệt hại. Khoản tiền này trước hết được dành cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người đã chết như vợ, chồng, cha mẹ hoặc con; nếu không có những người này thì sẽ được trả cho người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng hoặc người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận, nhưng nếu không đạt được thỏa thuận thì mức tối đa không quá 100 lần mức lương cơ sở theo quy định của Nhà nước (hiện nay là 2.340.000 đồng/tháng).
Ví dụ, nếu một người là lao động chính trong gia đình bị tai nạn dẫn đến tử vong, người gây thiệt hại ngoài việc bồi thường chi phí điều trị trước khi chết và chi phí mai táng còn phải tiếp tục bồi thường khoản tiền cấp dưỡng cho con chưa thành niên của người này, đồng thời bồi thường thêm một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần cho những người thân trong gia đình.
Điều 8 NQ 02/2022/NQ-HĐTP quy định chi tiết về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, trong đó bao gồm thời điểm xác định thiệt hại, chi phí hợp lý cho việc mai táng gồm các khoản nào và quy định về tiền cấp dưỡng cụ thể ra sao:
“Điều 8. Về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 591 của Bộ luật Dân sự
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 591 của Bộ luật Dân sự được xác định như sau:
1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự, được hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết này, được tính từ thời điểm người bị thiệt hại bị xâm phạm sức khỏe cho đến thời điểm người đó chết.
2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng đối với các khoản tiền: mua quan tài; chi phí hỏa táng, chôn cất; các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo phong tục, tập quán địa phương. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ.
3. Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc nuôi dưỡng trước khi chết được xác định như sau:
a) Mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, nhưng không thấp hơn 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng;
b) Thời điểm cấp dưỡng được tính từ thời điểm người bị thiệt hại bị xâm phạm về sức khỏe;
c) Đối tượng được bồi thường tiền cấp dưỡng là những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.”
4. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Bên cạnh các quy định về thiệt hại do tài sản, sức khỏe và tính mạng bị xâm phạm, Điều 592 BLDS 2015 còn quy định về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Đây là loại thiệt hại liên quan đến các giá trị nhân thân của cá nhân, cho thấy tinh thần của BLDS 2015 xác định việc bồi thường không chỉ để nhằm khắc phục vật chất, mà còn bù đắp những tổn thương về mặt tinh thần mà người bị xâm phạm phải gánh chịu.
“Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”
Theo khoản 1 Điều này, thiệt hại trước hết bao gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại. Đây có thể là những khoản chi cần thiết để cải chính thông tin sai lệch, xin lỗi công khai hoặc thực hiện các biện pháp nhằm khôi phục danh dự, uy tín của người bị xâm phạm. Ví dụ, A bị đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội làm ảnh hưởng đến uy tín cá nhân, A có thể phải chi tiền để yêu cầu gỡ bỏ thông tin, đăng thông báo cải chính hoặc nhờ luật sư hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của mình, những chi phí này có thể coi là chi phí hợp lý và được yêu cầu bồi thường.
Bên cạnh đó, thiệt hại còn bao gồm thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút do việc danh dự, nhân phẩm, uy tín cá nhân bị xâm phạm. Trên thực tế, việc bị bôi nhọ hoặc đưa thông tin sai lệch có thể làm ảnh hưởng đến công việc, hoạt động kinh doanh của người bị xâm phạm. Chẳng hạn, một nhân viên kinh doanh có thu nhập từ tiền lương và tiền hoa hồng bán hàng bị người khác tung tin sai sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín cá nhân. Trong thời gian đó, người này phải nghỉ làm nhiều ngày để thu thập chứng cứ, làm việc với cơ quan chức năng và yêu cầu cải chính thông tin, dẫn đến việc không thể thực hiện công việc và bị mất khoản thu nhập từ tiền lương hoặc hoa hồng. Trong trường hợp này, phần thu nhập thực tế bị mất có thể được xác định là thiệt hại và người đưa thông tin sai sự thật phải bồi thường khoản thu nhập bị mất này.
Bên cạnh quy định tại Điều 592 của BLDS 2015, cách xác định cụ thể thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm còn được hướng dẫn chi tiết tại Điều 9 của Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP.
“Điều 9. Về thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại Điều 592 của Bộ luật Dân sự
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại Điều 592 của Bộ luật Dân sự được xác định như sau:
1. Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm: Chi phí cần thiết cho việc thu hồi, xóa bỏ vật phẩm, ấn phẩm, dữ liệu có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi người bị thiệt hại chi trả để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cải chính trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại (nếu có).
2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được xác định như sau:
a) Trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm có thu nhập thực tế nhưng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó;
b) Việc xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị xâm phạm được thực hiện theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết này.”
Từ các quy định nêu trên có thể thấy, BLDS 2015 đã xây dựng một hệ thống quy định tương đối đầy đủ về xác định thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, bao gồm các trường hợp thiệt hại do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm và uy tín bị xâm phạm. Mỗi loại thiệt hại đều được quy định cụ thể về phạm vi và cách xác định nhằm bảo đảm việc bồi thường phản ánh đúng những tổn thất thực tế mà người bị thiệt hại phải gánh chịu, không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần. Đồng thời, các quy định này còn được hướng dẫn chi tiết hơn tại Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, qua đó giúp việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn được thống nhất và rõ ràng. Nhìn chung, các quy định này góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời nâng cao ý thức tôn trọng tài sản, sức khỏe, tính mạng và danh dự của người khác trong đời sống xã hội.
II. Phân tích thực tế
Thực tế hiện nay, không ít người có tư tưởng cho rằng trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với trường hợp sức khỏe bị xâm phạm là trách nhiệm pháp lý nặng nề, kéo dài và tốn kém hơn so với trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm, tâm lý lo sợ “phải nuôi nạn nhân cả đời” khiến người gây thiệt hại có suy nghĩ và hành vi mang tính cực đoan. Điển hình như trong trường hợp tài xế Đặng Hữu Anh Tuấn cán người 03 lần khiến thiếu nữ 16 tuổi tử vong (2010); tài xế xe bồn cố tình tông chết nữ sinh tại Phú Xuyên, Hà Nội (2025),…
Sở dĩ trong giới lái xe đường dài, xe tải tồn tại luật ngầm rất nguy hiểm, đó là “Thà cán chết người thì chỉ đền một lần còn hơn là cán người bị thương tật phải nuôi cả đời”. Luật ngầm này xuất phát từ quy định tại Điều 590 BLDS 2015 quy định về thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và Điều 591 BLDS 2015 quy định về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm. Một số người cho rằng khi gây tai nạn giao thông, nếu nạn nhân bị thương nặng nhưng còn sống thì người gây tai nạn có thể phải bồi thường trong thời gian dài, bao gồm chi phí điều trị, chi phí phục hồi sức khỏe, thu nhập bị mất của nạn nhân và cả chi phí chăm sóc lâu dài nếu nạn nhân mất khả năng lao động theo Điều 590 BLDS 2015. Trong khi đó, nếu nạn nhân tử vong, trách nhiệm bồi thường chủ yếu bao gồm chi phí mai táng, tiền cấp dưỡng cho những người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng và một khoản bù đắp tổn thất tinh thần cho thân nhân theo Điều 591. Chính vì sự so sánh đơn giản này nên trong xã hội đôi khi xuất hiện quan niệm sai lầm như “Thà cán chết người còn hơn để người đó bị thương tật phải nuôi cả đời”.
Tuy nhiên, thực tế trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự là 02 loại trách nhiệm khác nhau. Việc tài xế cố ý đâm chết người sau khi có va chạm xảy ra ngoài việc phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự còn bị truy tố thêm trách nhiệm hình sự về tội Giết người được quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS 2015, cụ thể:
“Điều 123. Tội giết người
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn.”

Bên cạnh quy định tại khoản 1 Điều 123 BLHS 2015, án lệ số 30/2020 (về hành vi cố ý điều khiển phương tiện giao thông chèn lên bị hại sau khi gây tai nạn) cũng thể hiện trách nhiệm hình sự rõ ràng đối với hành vi cố ý đâm chết người sau khi xảy ra va chạm. Theo đó, hành vi này có thể chịu trách nhiệm hình sự cao nhất tại mức tử hình, đó là chỉ mới xét về trách nhiệm hình sự, còn về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại là trách nhiệm phải có.
Từ đó cho thấy hậu quả pháp lý của việc cố ý làm chết người nghiêm trọng hơn rất nhiều so với trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự. Không chỉ phải bồi thường cho gia đình nạn nhân theo quy định của pháp luật dân sự, người thực hiện hành vi còn có thể phải chịu hình phạt tù trong thời gian rất dài hoặc mất quyền tự do vĩnh viễn, thậm chí phải chịu mức hình phạt cao nhất là tử hình. Do đó, quan niệm cho rằng “cán chết người thì chỉ phải đền một lần” là nhận thức sai lầm và cực kỳ nguy hiểm, vi phạm nghiêm trọng quy chuẩn đạo đức cũng như quy định pháp luật, bởi pháp luật luôn đặt quyền sống của con người ở vị trí đặc biệt được bảo vệ và áp dụng những chế tài hình sự nghiêm khắc nhất đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người khác.
Thúy Hằng
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Nghĩa vụ trả tiền”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.