Trong đời sống kinh tế và xã hội, các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật đều bị ràng buộc với nhau bởi quyền của một bên và nghĩa vụ của bên còn lại. Như trong quan hệ mua bán hàng hoá, nghĩa vụ của bên bán là giao vật còn nghĩa vụ của bên mua là trả tiền. Không chỉ đối với quan hệ mua bán hàng hoá thì các bên mới phát sinh nghĩa vụ với nhau, mà hầu hết trong các giao dịch dân sự luôn có ít nhất một bên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ. Vậy, khi nào thì nghĩa vụ được xem là chấm dứt? Để hiểu rõ hơn về các quy định đối với chấm dứt nghĩa vụ, sau đây, mời các bạn tìm hiểu về nội dung “Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ theo Bộ luật Dân sự”
1. Thế nào là chấm dứt nghĩa vụ
Theo Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản khác liên quan, hiện nay chưa có quy định khái quát cụ thể như thế nào là chấm dứt nghĩa vụ, thay vào đó Bộ luật Dân sự 2015 chỉ đặt ra những trường hợp được xem là chấm dứt nghĩa vụ.
Tuy nhiên, nếu xét theo khái niệm về nghĩa vụ được quy định tại Điều 274 Bộ luật Dân sự 2015, có thể hiểu chấm dứt nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không còn phải thực hiện việc giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, được thực hiện hoặc không cần thực hiện công việc đã thoả thuận đối với bên có quyền.
2. Các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ
Một hoặc nhiều nghĩa vụ chỉ chấm dứt khi thuộc các căn cứ được quy định rõ trong Bộ luật Dân sự, cụ thể các căn cứ được quy định tại Điều 372 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể như sau.
Nghĩa vụ được hoàn thành
Theo quy định tại Điều 373 Bộ luật Dân sự 2015, khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hoặc thực hiện một phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên có quyền cho miễn thực hiện thì được xem là hoàn thành nghĩa vụ.
Ví dụ, ông T có giao kết hợp đồng mua bán 3 tấn thép với Công ty TNHH X, theo hợp đồng, ông T có nghĩa vụ giao 3 tấn thép cho Công ty TNHH X, ngược lại Công ty TNHH X có nghĩa vụ phải trả tiền cho ông T. Đến hạn thực hiện hợp đồng, ông T giao 3 tấn thép cho Công ty, Công ty trả tiền cho ông T. Trong trường hợp trên, nghĩa vụ của ông T và Công ty TNHH X được xem là hoàn thành và chấm dứt.
Ngoài ra, Điều 374 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định trường hợp khi bên có quyền chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ là tài sản thì nghĩa vụ hoàn thành tại thời điểm tài sản đã được gửi giữ tại nơi nhận gửi giữ theo quy định tại Điều 355 Bộ luật Dân sự 2015.
Ví dụ, Ông T giao kết hợp đồng mua bán 3 tấn thép với Công ty TNHH X, thời hạn giao hàng và trả tiền là ngày 22/3/2026 tại Kho bãi Y. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ, ông T giao sắt đến nhưng Công ty TNNH X không nhận được vì không còn chỗ trống trong kho. Ông T gửi 3 tấn sắt tại Kho bãi Y và yêu cầu Công ty TNHH X thực hiện việc trả tiền. Trong trường hợp này, do Công ty chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ nên nghĩa vụ giao hàng của ông T được xem là hoàn thành.
Theo thoả thuận của các bên
Các bên có thể thoả thuận chấm dứt nghĩa vụ bất cứ lúc nào, nhưng không được gây thiệt hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác theo Điều 375 Bộ luật Dân sự 2015. Bản chất việc giao kết hợp đồng là sự thoả thuận của các bên về việc xác lập quyền và nghĩa vụ với nhau, qua đó các bên cũng có thể thoả thuận về việc chấm dứt nghĩa vụ miễn đáp ứng theo quy định của pháp luật.
Ví dụ, chị C có giao kết hợp đồng mua bán xe mô tô với em gái của mình là chị D, theo đó chị C có nghĩa vụ giao xe và chị D có nghĩa vụ trả tiền. Tuy nhiên, do chị D không có nhu cầu sử dụng xe và chị C không có nhu cầu bán nữa nên cả hai thoả thuận về việc không cần thực hiện nghĩa vụ trả tiền và giao xe. Trường hợp này nghĩa vụ của các bên được xác định đã chấm dứt căn cứ theo thoả thuận của các bên.
Bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ
Căn cứ theo Điều 376 Bộ luật Dân sự 2015, khi bên có quyền miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ thì phần nghĩa vụ được miễn được xác định là chấm dứt, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ngoài ra, đối với nghĩa vụ có kèm biện pháp bảo đảm thì khi bên có quyền miễn nghĩa vụ thì biện pháp bảo đảm cũng chấm dứt theo.
Ví dụ, ông V là nông dân có nhu cầu mua xe đạp điện cho con đi học nên đã liên hệ chị B để mua xe. Hai bên giao kết hợp đồng mua bán, sau khi xem qua hoàn cảnh gia đình của ông V, chị B quyết định miễn nghĩa vụ trả tiền mua xe cho ông V. Đây là trường hợp nghĩa vụ chấm dứt khi bên có quyền miễn thực hiện nghĩa vụ.
Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác
Căn cứ theo khoản 1, 2 Điều 377 Bộ luật Dân sự 2015, đối với trường hợp các bên thoả thuận thay thế nghĩa vụ ban đầu bằng nghĩa vụ khác thì nghĩa vụ ban đầu chấm dứt. Ngoài ra, nghĩa vụ cũng chấm dứt nếu nếu bên có quyền đã tiếp nhận tài sản hoặc công việc khác thay thế cho tài sản hoặc công việc đã thoả thuận trước.
Ví dụ, anh A qua nhà bạn là C để ăn tiệc, do sơ ý nên đã làm bể bình hoa trị giá 8.000.000 đồng của C. Theo thoả thuận ban đầu, C đồng ý để A trả lại số tiền tương ứng giá trị của cái bình, tuy nhiên do C vẫn tiếc bình cũ nên đã yêu cầu A mua lại chiếc bình khác tương tự. Trong trường hợp này, nghĩa vụ trả tiền ban đầu của A đã chấm dứt do bị thay thế bởi nghĩa vụ phải mua lại cái bình khác.
Tuy nhiên, pháp luật cũng đặt ra trường hợp ngoại lệ đối với trường hợp chấm dứt nghĩa vụ do được thay thế bởi nghĩa vụ khác. Cụ thể theo khoản 2 Điều 377 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp nghĩa vụ là nghĩa vụ cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các nghĩa vụ khác gắn liền với nhân thân không thể chuyển cho người khác được thì không được thay thế bằng nghĩa vụ khác. Đây là quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho người bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các nghĩa vụ khác gắn liền với nhân thân mà không thể chuyển giao cho người khác được.
Nghĩa vụ được bù trừ
Căn cứ theo quy định tại Điều 378 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp các bên có cùng nghĩa vụ về tài sản cùng loại với nhau thì khi cùng đến hạn họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp luật có quy định khác. Trường hợp giá trị của tài sản hoặc công việc không tương đương với nhau thì các bên thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch. Ngoài ra, những vật được định giá thành tiền cũng có thể bù trừ với nghĩa vụ trả tiền.
Ví dụ, Công ty Cổ phần M nợ Công ty TNHH MTV P 30.000.000 đồng, công ty TNHH MTV P nợ Công ty Cổ phần M 15.000.000 đồng. Hai bên quyết định bù trừ khoản nợ cho nhau, theo đó Công ty TNHH MTV P không phải thanh toán số tiền 15.000.000 đồng cho Công ty Cổ phần M, ngược lại thì Công ty M chỉ cần thành toán số tiền chênh lệch là 15.000.000 đồng cho Công ty P. Trong trường hợp này, nghĩa vụ trả 15.000.000 đồng của Công ty P đã chấm dứt do được bù trừ.
Bên có quyền và bên có nghĩa vụ hoà nhập làm một
Trong các hoạt động kinh tế, không hiếm gặp các trường hợp các doanh nghiệp tái cơ cấu lại tổ chức, từ đó tư cách tham gia quan hệ xã hội cũng thay đổi. Đối với trường hợp trên, tại Điều 380 Bộ luật Dân sự 2015 quy định khi bên có nghĩa vụ trở thành bên có quyền đối với chính nghĩa vụ đó thì nghĩa vụ chấm dứt.
Ví dụ, Công ty Cổ phần T nợ Công ty TNHH H 20.000.000.000 đồng, trong quá trình làm việc và định hướng, Công ty Cổ phần T đã sát nhập vào Công ty TNHH H thành Công ty TNHH H. Theo đó, khoản nợ của Công ty Cổ phần T cũ đã chấm dứt vì bên có quyền là Công ty TNHH H và bên có nghĩa vụ trả tiền là Công ty Cổ phần T đã hoà nhập làm một.
Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết
Căn cứ theo Điều 381 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp khi thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết thì nghĩa vụ chấm dứt.
Ví dụ, nhà ở riêng lẻ của anh A được hoàn thành việc xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng ngày 11/8/2025, thời hạn bảo hành là 24 tháng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 129 Luật nhà ở 2023. Đến ngày 12/3/2026 nhà của anh A bị bão ảnh hưởng nên anh yêu cầu bảo hành. Tuy nhiên nghĩa vụ bảo hành đã chấm dứt do thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ bảo hành nhà của anh A đã hết.
Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện
Đối với trường hợp bên có nghĩa vụ là cá nhân hoặc pháp nhân mà đã chết, tuy Bộ luật Dân sự chưa quy định chi tiết hướng xử lý cho trường hợp này nhưng có thể hiểu rằng khi một bên có nghĩa vụ là cá nhân đã chết hoặc pháp nhân đã chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân hoặc pháp nhân đó thực hiện thì nghĩa vụ đó chấm dứt.
Ví dụ, C có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho cháu N đến khi cháu N 18 tuổi, tuy nhiên khi cháu N lên 10 tuổi thì C mất. Theo đó nghĩa vụ cấp dưỡng của C đối với cháu N cũng chấm dứt do C đã chết. Đây là trường hợp nghĩa vụ chấm dứt do cá nhân chết mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân C thực hiện.
Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác
Đối với trường hợp bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác, Điều 382 Bộ luật Dân sự 2015 quy định khi các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về việc nghĩa vụ được thực hiện chỉ dành cho cá nhân hoặc pháp nhân là bên có quyền mà cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại thì nghĩa vụ cũng chấm dứt.
Ví dụ, chị V có đặt may một bộ vest ở cửa hàng của ông A và đã thanh toán trước cho ông. Ông A hẹn đến ngày 23/3/2026 sẽ giao đồ đến cho chị V. Tuy nhiên ngày 21/3/2026, chị V bị tai nạn không qua khỏi và không có di chúc. Trường hợp trên nghĩa vụ giao hàng của ông A được chấm dứt vì chị V đã chết mà quyền yêu cầu ông A thực hiện nghĩa vụ của mình không thuộc di sản thừa kế.
Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng nghĩa vụ khác
Căn cứ theo Điều 383 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp vật phải giao là vật đặc định không còn thì ghĩa vụ giao vật chấm dứt. Các bên có thể thoả thuận thay thế vật khác hoặc bồi thường thiệt hại.
Ví dụ, chị M mượn chiếc đồng hồ gia truyền của anh S nhưng vô tình làm mất, do là đồ gia truyền nên chỉ có một chiếc nên chị không thể tìm chiếc đồng hồ khác thay thế. Sau trao đổi, chị M và anh S thoả thuận rằng chị M sẽ bồi thường cho anh S 100.000.000 đồng. Trong trường hợp này, nghĩa vụ giao chiếc đồng hồ của chị M được thay thế bởi nghĩa vụ thay tiền. Do đó nghĩa vụ giao vật đặc định là chiếc đồng hồ gia truyền của chị M cũng chấm dứt.
Trường hợp khác do luật quy định
Ngoài những trường hợp được quy định tại Bộ luật Dân sự về chấm dứt nghĩa vụ, tại các văn bản luật hiện hành khác điều chỉnh các quan hệ pháp luật khác cũng có quy định về việc chấm dứt nghĩa vụ của chủ thể theo những trường hợp đặc biệt.
Tại Điều 384 Bộ luật Dân sự 2015 cũng đã đặt ra một trong số các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ do luật khác quy định, cụ thể đối với trường hợp phá sản thì nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Luật phá sản.
Căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 53 Luật Phục hồi, phá sản 2025, trường hợp các bên có nghĩa vụ về tài sản tương đương với nhau thì không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt. Cần lưu ý rằng đối với căn cứ chấm dứt nghĩa vụ theo quy định của Luật phục hồi, phá sản thì cần phải đáp ứng đủ các điều kiện của thủ tục phá sản được quy định trong luật, tránh trường hợp áp dụng một các thiếu chính xác.
Ví dụ, Công ty TNHH X nợ Công ty Cổ phần K 20.000.000.000 đồng, nợ Công ty TNHH MTV E 14.000.000.000 đồng. Đồng thời Công ty TNHH MTV E cũng nợ Công ty TNHH X 14.000.000.000 đồng. Tài sản hiện còn của Công ty TNHH X là 14.000.000.000 đồng. Sau khi mở thủ tục phá sản theo quy định của Luật phục hồi, phá sản, trong quá trình làm việc Công ty TNHH X và Công ty TNHH MTV E quyết định bù trừ nghĩa vụ trả nợ số tiền 14.000.000.000 đồng cho nhau. Trong trường hợp này, nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền 14.000.000.000 đồng giữa X và E chấm dứt do bù trừ nghĩa vụ.
3. Các trường hợp nghĩa vụ không được bù trừ
Trường hợp chấm dứt nghĩa vụ không hẳn sẽ luôn được bù trừ ở mọi trường hợp, pháp luật cũng đặt ra những ngoại lệ cho trường hợp chấm dứt nghĩa vụ theo căn cứ này. Căn cứ theo Điều 379 Bộ luật Dân sự 2015, các trường hợp mà nghĩa vụ không được bù trừ được xác định như sau:
1. Nghĩa vụ đang có tranh chấp;
2. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín;
3. Nghĩa vụ cấp dưỡng;
4. Nghĩa vụ khác do luật quy định.

Những nghĩa vụ trên đều là những nghĩa vụ gắn với nhân thân hoặc phải do chính chủ thể đó thực hiện đối với chủ thể có quyền. Quy định này đặt ra nhằm hạn chế việc bên có nghĩa vụ sẽ thoả thuận bù trừ đối với những nghĩa vụ mà phải do mình thực hiện để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đó.
Nhìn chung, các nghĩa vụ mà các bên xác lập với nhau đều phải chấm dứt theo quy định của pháp luật nói chung và Bộ luật Dân sự nói riêng, việc chấm dứt nghĩa vụ không đúng quy định pháp luật được xem là chấm dứt nghĩa vụ không có căn cứ và có thể dẫn đến các hậu quả như vi phạm thoả thuận, chịu các chế tài mà hai bên đã đặt ra.
Để hạn chế rủi ro không đáng có, việc chấm dứt nghĩa vụ cần được đề cập rõ khi các bên tiến hành đám phán với nhau, tránh các trường hợp chỉ chú ý vào những quyền lợi khi ký kết hợp đồng mà bỏ qua việc khi nào nghĩa vụ giữa các bên sẽ chấm dứt.
Gia Bảo
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ dân sự theo Bộ luật Dân sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline: 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website: emeraldlawfirm.vn hoặc email: emerald.VAA@gmail.com để được đội ngũ luật sư của Luật Emerald hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.