Trong thực tiễn đời sống, bên cạnh quan hệ hôn nhân được xác lập thông qua thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, còn tồn tại trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa hoặc không thực hiện đăng ký kết hôn, thường được gọi là “hôn nhân thực tế”. Để giải quyết các hệ quả pháp lý phát sinh từ thực trạng này, Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP đã đưa ra các tiêu chí nhằm xác định việc chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ. Trên cơ sở đó, pháp luật từng bước ghi nhận và phân định giá trị pháp lý của hôn nhân thực tế theo từng giai đoạn lịch sử, làm căn cứ giải quyết các quan hệ về nhân thân và tài sản phát sinh giữa các bên. Đồng thời, trong những bối cảnh lịch sử đặc biệt, pháp luật cũng có những quy định liên quan đến chế độ đa thê, đa phu nhằm xử lý các quan hệ đã tồn tại trên thực tế. Sau đây, mời Quý vị cùng tìm hiểu nội dung “Xác định hôn nhân thực tế và Chế độ đa thê, đa phu tại Việt Nam”.
1. Hôn nhân thực tế là gì?
Hôn nhân thực tế là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, được hiểu là quan hệ giữa nam và nữ cùng chung sống với nhau như vợ chồng, có sự gắn bó, chăm sóc, hỗ trợ và cùng nhau xây dựng gia đình, nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, hôn nhân thực tế vẫn được pháp luật xem xét để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến nhân thân, con chung và tài sản giữa các bên.
2. Xác định hôn nhân thực tế
Theo Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, hôn nhân thực tế được xác định là hợp pháp trong những trường hợp sau đây:
2.1. Trường hợp 1: Quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987
Đây là trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 (thời điểm Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 bắt đầu có hiệu lực) nhưng chưa đăng ký kết hôn. Theo quy định tại mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 (đã hết hiệu lực), Nhà nước thừa nhận thực tế lịch sử này và cho phép công nhận quan hệ vợ chồng hợp pháp mà không bắt buộc phải đăng ký kết hôn. Đồng thời, các cặp đôi được khuyến khích thực hiện thủ tục đăng ký để bảo đảm quyền lợi pháp lý.
– Điều kiện xác định: Theo điểm d khoản 1 Thông tư này thì hai bên phải có đủ điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật hiện hành và thỏa mãn một trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
+ Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận;
+ Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
+ Họ thực sự có chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.
+ Điều kiện kết hôn được xác định tại thời điểm Thông tư 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có hiệu lực được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau:
“Điều 9. Điều kiện kết hôn
Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
- Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào; không ai được cưỡng ép hoặc cản trở;
- Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này.”
“Điều 10. Những trường hợp cấm kết hôn
Việc kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây:
- Người đang có vợ hoặc có chồng;
- Người mất năng lực hành vi dân sự;
- Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
- Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
- Giữa những người cùng giới tính.”
– Thời điểm công nhận quan hệ vợ chồng: Được công nhận từ thời điểm các bên bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng.
– Giải quyết ly hôn: Nếu một bên hoặc các bên trong quan hệ vợ chồng này yêu cầu ly hôn thì Tòa án sẽ áp dụng Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết dù cho hai người này không đăng ký kết hôn.
2.2. Trường hợp 2: Quan hệ vợ chồng được xác lập từ ngày 03/01/1987 đến trước 01/01/2001
– Đối với các cặp đôi chung sống như vợ chồng trong giai đoạn từ 03/01/1987 đến trước 01/01/2001, pháp luật không còn mặc nhiên công nhận hôn nhân thực tế như giai đoạn trước. Theo mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10, các cặp đôi này bắt buộc phải đăng ký kết hôn trong thời hạn từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003 thì mới được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
– Thời điểm công nhận quan hệ vợ chồng: Tính từ thời điểm chung sống như vợ chồng với nhau khi tiến hành đăng ký kết hôn từ 03/01/1987 – 01/01/2001. Sau thời hạn này mà nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng thực hiện việc đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng chỉ được công nhận từ ngày đăng ký kết hôn, nghĩa là không công nhận hôn nhân thực tế đối với khoảng thời gian họ chung sống với nhau trước đó. Ngoài ra, sau khoảng thời gian này nếu hai bên không thực hiện việc đăng ký kết hôn thì không được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
– Giải quyết ly hôn: Đối với quan hệ hôn nhân hợp pháp, giải quyết theo Luật hôn nhân và gia đình. Đối với quan hệ hôn nhân không hợp pháp, không được coi là vợ chồng nên không tiến hành giải quyết ly hôn.
Tóm lại, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận “hôn nhân thực tế” đối với các quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03/01/1987, xuất phát từ điều kiện lịch sử khi việc đăng ký kết hôn chưa được phổ biến. Kể từ sau thời điểm này, đặc biệt từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, việc đăng ký kết hôn trở thành điều kiện bắt buộc để xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp. Do đó, các trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng sau ngày 03/01/1987 nếu không đăng ký kết hôn theo quy định thì không được công nhận là vợ chồng hợp pháp. Quy định này phản ánh sự thay đổi trong việc ghi nhận quan hệ hôn nhân dựa trên thực tế sang cơ chế quản lý bằng pháp luật một cách chặt chẽ, qua đó đảm bảo tính minh bạch và bảo vệ quyền cũng như lợi ích hợp pháp của các bên.

3. Hậu quả khi chấm dứt hôn nhân thực tế
Việc nam, nữ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn về nguyên tắc chưa được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Do đó, khi chấm dứt quan hệ này, không thể áp dụng đầy đủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành để giải quyết như đối với vợ chồng hợp pháp. Chính vì vậy, việc xử lý các vấn đề phát sinh, đặc biệt là tài sản và con cái, thường phức tạp hơn và phải dựa trên các nguyên tắc chung của pháp luật dân sự cũng như các văn bản hướng dẫn liên quan.
3.1. Phân chia tài sản
– Tài sản riêng: Thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ hoặc có căn cứ chứng minh là tài sản riêng.
– Tài sản chung: Được chia theo tỷ lệ đóng góp của mỗi bên; việc xác định công sức đóng góp (về tài chính, lao động, chăm sóc gia đình,…) có ý nghĩa quan trọng và thường là nội dung dễ phát sinh tranh chấp nhất.
3.2. Quyền lợi con cái
Nếu nam nữ chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn mà có con chung, thì được giải quyết như sau:
– Nghĩa vụ cấp dưỡng: Cha, mẹ vẫn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đây là nghĩa vụ bắt buộc, không phụ thuộc vào việc quan hệ giữa hai bên có được công nhận là hôn nhân hợp pháp hay không.
– Việc nuôi dưỡng, giám hộ: Quyền trực tiếp nuôi con sẽ do Tòa án xem xét, quyết định dựa trên điều kiện thực tế của mỗi bên để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho con.
4. Chế độ đa phu, đa thê tại Việt Nam
Pháp luật Việt Nam hiện hành không thừa nhận chế độ đa phu, đa thê mà xác lập nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng. Tuy nhiên, xét trong bối cảnh lịch sử phong kiến – thời điểm mà chế độ đa thê được xem là hợp pháp và phổ biến, hay trong bối cảnh chiến tranh loạn lạc, gia đình lạc mất nhau, pháp luật đã đặt ra các quy định mang tính chuyển tiếp nhằm giải quyết những quan hệ hôn nhân đã được xác lập trong khoảng thời gian này. Cụ thể Mục 4 Nghị quyết 02/HĐTP về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp lệnh thừa kế và Thông tư số 60/TATC về hướng dẫn giải quyết các việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội có vợ, có chồng trong nam, tập kết ra bắc lấy vợ, lấy chồng khác đã gián tiếp thể hiện việc công nhận và giải quyết quyền, nghĩa vụ trong trường hợp một người có nhiều vợ được xác lập trước khi pháp luật cấm chế độ đa thê. Các quy định này chủ yếu nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan, đặc biệt là phụ nữ và con cái trên cơ sở tôn trọng yếu tố lịch sử.
– Theo Thông tư số 60/TATC: Đối với trường hợp cán bộ, bộ đội đã có vợ có chồng ở trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ lấy chồng khác mà chưa có bản án ly hôn với người ở trong Nam, trong trường hợp này cũng có thể coi là đa phu, đa thê. Tuy nhiên, Thông tư 60/TATC xác định đây là hệ quả của hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, nên không xử lý một cách máy móc theo nguyên tắc vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Cụ thể, Tòa án phải xem xét toàn diện hoàn cảnh của các bên, diễn biến quan hệ hôn nhân và nguyện vọng thực tế để đưa ra hướng giải quyết phù hợp, ưu tiên hòa giải, ổn định đời sống gia đình và bảo đảm quyền lợi của phụ nữ, con cái. Có thể thấy rằng, dù về nguyên tắc việc kết hôn khi chưa ly hôn là trái pháp luật, nhưng trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, pháp luật đã có cách tiếp cận linh hoạt, thừa nhận thực tế và đặt trọng tâm vào việc giải quyết hài hòa quyền, lợi ích của các bên liên quan.
– Theo mục 4 Nghị quyết 02/HĐTP: Quy định này thể hiện việc pháp luật gián tiếp công nhận sự tồn tại của chế độ đa thê trong những giai đoạn lịch sử nhất định, khi một người có nhiều vợ mà các quan hệ hôn nhân đó không bị Toà án hủy bỏ. Trên cơ sở đó, pháp luật không phủ nhận các quan hệ này mà ghi nhận giá trị pháp lý của chúng trong lĩnh vực thừa kế. Cụ thể, tất cả các người vợ trong quan hệ đa thê đều được xác định là người thừa kế hàng thứ nhất của người chồng và ngược lại, người chồng cũng là người thừa kế hàng thứ nhất của mỗi người vợ. Đồng thời, pháp luật bảo đảm quyền lợi bình đẳng của các chủ thể khác như con trong giá thú, con ngoài giá thú, con nuôi,… khi đều được xác định là người thừa kế hàng thứ nhất. Quy định này cho thấy mục tiêu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, đặc biệt là phụ nữ và con cái, trong bối cảnh tồn tại quan hệ hôn nhân đa thê mang tính lịch sử.
Từ những phân tích trên có thể thấy, việc xác định và công nhận “hôn nhân thực tế” không chỉ mang ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận hôn nhân thực tế đối với các quan hệ được xác lập trước ngày 03/01/1987, xuất phát từ điều kiện lịch sử khi việc đăng ký kết hôn chưa được thực hiện phổ biến; còn sau thời điểm này, việc đăng ký kết hôn là điều kiện bắt buộc để quan hệ hôn nhân được công nhận hợp pháp. Bên cạnh đó, trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, pháp luật cũng có sự ghi nhận mang tính chuyển tiếp đối với các quan hệ hôn nhân có yếu tố đa thê, qua đó bảo đảm quyền lợi của các bên, nhất là phụ nữ và con cái, trong các quan hệ đã tồn tại trên thực tế. Tuy không được xác lập đầy đủ theo thủ tục pháp lý, nhưng những trường hợp này vẫn được điều chỉnh linh hoạt nhằm bảo đảm công bằng và ổn định xã hội. Do đó, việc hiểu đúng và đầy đủ các quy định liên quan sẽ giúp cá nhân chủ động bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời góp phần hạn chế các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn.
Thúy Hằng
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Xác định hôn nhân thực tế và Chế độ đa thê, đa phu tại Việt Nam”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.