CÓ KHỞI TỐ KHI CÓ CĂN CỨ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ?

20/08/2026
CÓ KHỞI TỐ KHI CÓ CĂN CỨ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ?

Trong tố tụng hình sự, mối quan hệ giữa việc khởi tố vụ án và quyết định miễn trách nhiệm hình sự là nội dung mang tính thời sự cao. Việc xác định rõ căn cứ và trình tự tố tụng đối với người thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm không chỉ bảo đảm quyền con người mà còn phản ánh tính nhân văn của pháp luật.

Về vấn đề này, Viện kiểm sát đã có kết luận rằng“việc áp dụng quy định này [quy định khởi tố người thuộc diện miễn trách nhiệm hình sự] cần linh hoạt, đúng pháp luật, tránh cứng nhắc, hình thức,…”.

Tuy nhiên, theo quan điểm của Luật Emerald, chúng tôi có góc nhìn khác: Việc áp dụng linh hoạt như vậy có thể đi ngược lại đến nguy cơ không xử lý chính xác và bỏ lọt tội phạm khi không có giai đoạn điều tra.

Cụ thể để lập luận cho nhận định trên, kính mời quý độc giả đọc bài viết pháp lý dưới đây của chúng tôi về vấn đề “Có khởi tố khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự?”

1. Miễn trách nhiệm hình sự là gì

1.1. Định nghĩa và ý nghĩa pháp lý:

Mặc dù Bộ luật Hình sự 2015 không quy định rõ định nghĩa thế nào là miễn trách nhiệm hình sự, nhưng khi so sánh với quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự, có thể hiểu rằng miễn trách nhiệm hình sự là việc một chủ thể đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Bộ luật Hình sự 2015 thì người phạm phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng, tuy nhiên được miễn việc chịu trách nhiệm hình sự ấy.

1.2. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

– Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

– Khi có quyết định đại xá.

Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

– Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;

– Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa;

– Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.

Ngoài ra, người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Cuối cùng, ngoài quy định về căn cứ miễn trách nhiệm hình sự nêu trên, Bộ luật Hình sự 2015 cũng ghi nhận trường hợp đặc biệt được miễn trách nhiệm hình sự tại điều 16 là việc người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội mà không thực hiện đến cùng.

2. Khởi tố là gì?

2.1. Định nghĩa: Khởi tố là giai đoạn đầu tiên trong tố tụng hình sự. Đây là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định pháp lý khi phát hiện dấu hiệu tội phạm, hoặc khi có đủ căn cứ xác định một người hay pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội, nhằm mở đầu cho quá trình điều tra và xử lý theo pháp luật

2.2. Căn cứ khởi tố vụ án

Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định “Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm.”. Và việc xác định tội phạm phải dựa trên tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố, tự thú hoặc việc trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm.

Ví dụ: Khi có thông tin báo chí, dư luận về một sự việc vi phạm quy định giao thông đường bộ gây chết người, Cơ quan điều tra có thể dựa trên thông tin này để thực hiện hoạt động điều tra sơ khởi để xác định dấu hiệu tội phạm.

Bộ Công An 'giải vây' cho Nguyễn Sỹ Cương, đổ tội cho 'phản động'

(ảnh minh họa)

Tuy nhiên khi ra quyết định khởi tố vụ án, nếu có một trong các căn cứ không khởi tố vụ án quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thì người có thẩm quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố, hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án nếu đã ra quyết định khởi tố.

2.3. Căn cứ khởi tố bị can:

Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định “Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can”.

3. Có khởi tố khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự?

Có thể thấy rằng, trong 8 căn cứ không khởi tố vụ án hình sự tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không có căn cứ nào thuộc trường hợp người thực hiện hành vi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự. Để ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 158 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì phải nêu ra được một trong các căn cứ tại Điều 157 theo như quy định về mẫu văn bản tố tụng tại Thông tư số 119/2021/TT-BCA.

Phân tích căn cứ miễn trách nhiệm hình sự tại Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, có thể thấy đa số trong các trường hợp, bao gồm Điểm a Khoản 1 và Điểm a, b Khoản 2 đều ghi rõ “Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử…”. Bởi điều tra, truy tố và xét xử là các giai đoạn bắt đầu sau giai đoạn khởi tố trong tiến trình tố tụng hình sự, có thể suy ra rằng với các trường hợp trên, người phạm tội chỉ có thể được miễn trách nhiệm hình sự sau khi đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Tương tự với trường hợp đại xá, người phạm tội để có thể được đại xá thì đã phải bị khởi tố, đưa vụ án vào bị can vào tiến trình tố tụng.

Đặc biệt trường hợp tại Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015, mặc dù không nêu rõ giai đoạn tố tụng trong nội dung, tuy nhiên với yêu cầu phải xác định chủ quan của người phạm tội, phân loại tội phạm,… thì không thể xác định nếu không bước vào giai đoạn điều tra. Cụ thể, quy định về các hoạt động điều tra sơ khởi tại Khoản 3 Điều 147 bao gồm: Thu thập và xác minh thông tin; khám nghiệm tử thi, hiện trường; trưng cầu giám định, định giá. Có thể thấy chỉ với các hoạt động điều tra đơn giản trước khởi tố như này thì không thể xác định các tiêu chí cần thiết cho căn cứ miễn trách nhiệm hình sự tại Khoản 3 Điều 29, mà yêu cầu các hoạt động điều tra sâu rộng tại giai động điều tra

Bên cạnh đó, theo diễn giải tại Điều 179 nêu trên, chỉ cần một người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự 2015 quy định là tội phạm thì đã đủ căn cứ để khởi tố bị can.

Vậy nên về mặt quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, trong trường hợp người có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội/hành vi phạm tội có căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự thì vẫn phải ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Và có thể ra quyết định đình chỉ trong giai đoạn điều tra theo quy định tại Điều 230, trong giai đoạn truy tố theo điều 248, hoặc rút quyết định truy tố và đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử theo quy định tại Điều 285.

4. Giải thích của Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã có câu trả lời cho người dân quan tâm trên Cổng thông tin điện tử:

“Với quy định này, hiện đang có 02 quan điểm chính:

– Quan điểm thứ nhất cho rằng trong quá trình thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu người thực hiện hành vi phạm tội có đủ điều kiện để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tiến hành một số hoạt động điều tra rồi mới ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can với căn cứ “được miễn trách nhiệm hình sự”. Như vậy mới đúng trình tự, thủ tục mà BLTTHS năm 2015 quy định (đối chiếu với quy định tại các Điều 143 và 157 BLTTHS năm 2015).

– Quan điểm thứ hai cho rằng trong trường hợp này, chỉ cần ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự với lý do “thuộc diện được miễn trách nhiệm hình sự” chứ không cần phải làm các bước như quan điểm thứ nhất bởi lẽ sẽ giảm bớt thủ tục, thời gian, kinh phí… cho các cơ quan tiến hành tố tụng, phù hợp với chủ trương “cải cách, giảm bớt thủ tục hành chính” hiện nay. Ngoài ra, còn có một lý do quan trọng nữa là sẽ có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội vì trong lý lịch của họ sẽ không có “án tích”. Đây là tư tưởng nhân văn, tiến bộ đã được Hiến định.

Ngoài hai quan điểm trên, còn có quan điểm cho rằng để việc miễn trách nhiệm hình sự thực hiện đúng quy định của pháp luật mà vẫn có lợi cho người phạm tội, chỉ cần ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra nhưng không khởi tố bị can, sau đó ra quyết định đình chỉ vụ án. Đây cũng là một cách để miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.

Về cơ bản, việc vận dụng quy định tại khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để miễn trách nhiệm hình sự cho người thực hiện hành vi phạm tội cần được thực hiện linh hoạt, phù hợp với thực tiễn và đặc thù của từng vụ việc, từng nơi, và quan trọng nhất là sự thống nhất quan điểm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng về đường lối giải quyết vụ án. Trên cơ sở đó, cần có cách thức giải quyết và áp dụng khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015 hợp lý, hợp tình và đúng quy định của pháp luật, tránh áp dụng tràn lan, tùy tiện…

Hay nói cách khác, việc áp dụng quy định này cần linh hoạt, đúng pháp luật, tránh cứng nhắc, hình thức, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.” Quý bạn đọc quan tâm có thể xem thêm chi tiết tại đường dẫn tới Cổng thông tin điện tử Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Nhận định về giải thích nêu trên của Viện kiểm sát, đội ngũ luật sư tại Luật Emerald có những phản bác như sau. Về quan điểm thứ hai được Viện kiểm sát đưa ra, việc “chỉ cần ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự với lý do ‘thuộc diện được miễn trách nhiệm hình sự’” là trái với trình tự, thủ tục được quy định thành văn tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Như đã phân tích ở phần trước, miễn trách nhiệm hình sự không phải và không thể là căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự bởi:

Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự không phải là một trong tám căn cứ không khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, và trong quyết định không khởi tố vụ án hình sự buộc phải nêu ra một trong tám căn cứ ấy quy định về mẫu văn bản tố tụng.

Thứ hai, đa số các trường hợp thuộc diện miễn trách nhiệm hình sự đều được Bộ luật Hình sự quy định là trong các giai đoạn sau khi khởi tố. Đặc biệt với Khoản 3 Điều 29, cũng theo phân tích như trên, Luật Emerald cho rằng quá trình điều tra sơ khởi trong giai đoạn thụ lý, giải quyết tin báo trước khởi tố là không thể xác định các tiêu chí cần thiết để áp dụng căn cứ này, bởi các hoạt động điều tra được quy định trong giai đoạn này vẫn chưa đủ sâu rộng, thậm chí là chưa có hoạt động hỏi cung để xác định ý chí chủ quan của người phạm tội.

Vậy nên, việc Viện kiểm sát kết luận rằng “…việc áp dụng quy định này cần linh hoạt, đúng pháp luật, tránh cứng nhắc, hình thức,…” theo quan điểm của đội ngũ luật sư của Emerald là không phù hợp, vượt ngoài các quy định tại Bộ luật Hình sự và Tố tụng hình sự. Việc áp dụng linh hoạt như vậy có thể đi ngược lại lý luận nền tảng của khoa học hình sự, dẫn đến nguy cơ không xử lý chính xác và bỏ lọt tội phạm khi không có giai đoạn điều tra, trái với quy định tại Điều 2 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 3 Bộ luật Hình sự 2015 về nhiệm vụ và nguyên tắc của hai Bộ luật này.

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về Có khởi tố khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự?. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật