Thẩm quyền xét xử của Tòa án trong vụ án hình sự

25/12/2024
Thẩm quyền xét xử của Tòa án trong vụ án hình sự

1. Thẩm quyền xét xử của Tòa án theo cấp

1.1. Thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực

Theo quy định tại khoản 1 Điều 268 BLTTHS 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét sử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trong đó:

– Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù 03 năm;

– Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là 03 đến 07 năm tù;

– Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là 07 đến 15 năm tù.

Như vậy, có thể thấy Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những tội phạm mà BLHS quy định hình phạt từ 15 năm tù trở xuống.

Tuy nhiên, không phải tất cả các tội phạm có mức hình phạt từ 15 năm tù trở xuống đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực. Cụ thể, các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh, các tội quy định tại Điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 BLHS, cũng như các tội phạm xảy ra ở nước ngoài sẽ do tòa án có thẩm quyền cao hơn xét xử.

1.2. Thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu

Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án được quy định tại khoản 2 Điều 268 BLTTHS 2015 như sau:

– Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực;

– Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;

– Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người.

2. Thẩm quyền xét xử của Tòa án theo lãnh thổ

Theo quy định tại Điều 269 BLTTHS 2015, thẩm quyền xét xử của Tòa án theo lãnh thổ được quy định như sau:

– Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp mà tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi tội phạm được thực hiện thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

Ví dụ: A đã thực hiện hành vi trộm cắp một chiếc xe máy ở huyện N, tỉnh V. Sau khi thực hiện xong hành vi trộm cắp thì A đã chạy chiếc xe máy đó về quê của mình để bán lấy tiền tiêu sài. Trường hợp này thì Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh V là tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án vì đây là nơi mà A đã thực hiện hành vi tội phạm của mình.

– Trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử tại Việt Nam thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho TAND thành phố Hà Nội hoặc TAND thành phố Hồ Chí Minh hoặc TAND thành phố Đà Nẵng để xét xử.

– Trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.

3. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự được quy định tại Điều 272 BLTTHS 2015 như sau:

– Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu;

– Vụ án hình sự mà bị cáo là dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu;

– Vụ án hình sự mà bị cáo là công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân.

Trường hợp vụ án hình sự mà có bị cáo không thuộc vào các đối tượng đã nêu trên nhưng có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự và uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ thì cũng thuộc thảm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

Lưu ý: Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả các tội phạm xảy ra trong thiết quân luật.

4. Thẩm quyền xét xử của Tòa án trong các trường hợp đặc biệt

Trường hợp tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam thì thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.

Trường hợp bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên thì Tòa án cấp trên xét xử Tòa bộ vụ án.

Trường hợp vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện như sau:

– Trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân;

– Trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.

Mỹ Duyên

Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Thẩm quyền xét xử của Tòa án trong vụ án hình sựNếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật