Trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự, khi cần thiết cần phải có biện pháp để thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật để thu thập thêm thông tin, chứng cứ. Vậy, có các biện pháp nào? Có phải ai cũng được phép thực hiện các biện pháp đó?
1. Thu giữ dữ liệu điện tử, phương tiện điện tử
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS 2015) không giải thích khái niệm về “dữ liệu điện tử” hay “phương tiện điện tử”. Tuy nhiên có thể tham khảo quy định về hai khái niệm trên tại Luật Giao dịch điện tử 2023 như sau:
– Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự;
– Dữ liệu điện tử là dữ liệu được tạo ra, xử lý, lưu trữ bằng phương tiện điện tử.
Thu giữ dữ liệu điện tử, phương tiện điện tử được quy định tại Điều 196 BLTTHS 2015 như sau:
“Điều 196. Thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử
- Việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn liên quan tham gia. Trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu vào phương tiện lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng.
- Khi thu giữ các phương tiện điện tử có thể thu thiết bị ngoại vi kèm theo và các tài liệu có liên quan.”
Như vậy, phương tiện điện tử được đề cập trong BLTTHS 2015 có thể là điện thoại, máy tính, USB,… và dữ liệu điện tử gần gũi nhất với chúng ta là các tệp trên điện thoại, máy tính như tệp văn bản, tệp hình ảnh,…
Thu giữ dữ liệu điện tử bằng cách sao lưu vào phương tiện lưu trữ thường thấy là sao chép các tệp sang USB, đĩa CD,… để lưu trữ.
2. Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông
Việc thu giữ thư tín, điện tử, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông được quy định tại Điều 197 BLTTHS 2015 như sau:
– Khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông thì Cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ. Lệnh này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.
– Trường hợp không thể trì hoãn việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông thì Cơ quan điều tra có thể tiến hành thu giữ nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Sau khi thu giữ phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc thu giữ để xét phê chuẩn.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh thu giữ phải trả lại ngay cho cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông, đồng thời thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết.
– Người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông hữu quan trước khi tiến hành thu giữ. Người quản lý cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông hữu quan phải tạo điều kiện để người thi hành lệnh thu giữ hoàn thành nhiệm vụ.
Khi thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, phải có đại diện của cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông chứng kiến và ký xác nhận vào biên bản.
Cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết. Nếu việc thông báo cản trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo ngay.

3. Tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét
Tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét được quy định tại Điều 198 BLTTHS 2015 như sau:
– Khi khám xét, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền. Trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ sở hữu đồ vật, người quản lý đồ vật, người chứng kiến, đại diện gia đình, đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét.
– Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật khi tiến hành khám xét được lập biên bản theo quy định của BLTTHS. Biên bản tạm giữ được lập thành bốn bản, trong đó một bản giao cho người chủ tài liệu, đồ vật hoặc người quản lý tài liệu, đồ vật, một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản giao cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản giao cho cơ quan quản lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ.
KẾT LUẬN: Các biện pháp thu giữ và tạm giữ tài liệu, đồ vật trong tố tụng hình sự đều nhằm mục tiêu hỗ trợ quá trình thu thập chứng cứ một cách hiệu quả, đồng thời đảm bảo tính minh bạch, hợp pháp và tuân thủ quy định pháp luật. Việc thực hiện các biện pháp này luôn phải do người có thẩm quyền thực hiện, với sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng để bảo đảm tính khách quan và đúng quy trình.
Hoài Anh
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật trong tố tụng hình sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.