“Con riêng” là một khái niệm thường gặp trong đời sống, dùng để chỉ những người con không được sinh ra trong quan hệ hôn nhân hiện tại của cha hoặc mẹ, bao gồm cả trường hợp con với “vợ lẽ”, “chồng thứ”, con sinh ngoài hôn nhân hoặc con được nhận nuôi theo quy định pháp luật. Những trường hợp này làm cho quan hệ gia đình trở nên phức tạp hơn về mặt pháp lý, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi pháp luật không còn thừa nhận chế độ đa thê đa phu và đề cao nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, việc xác định địa vị pháp lý của những người con này, cụ thể là trong lĩnh vực thừa kế đã đặt ra nhiều vấn đề cần được làm rõ. Vậy con riêng có được nhận thừa kế hay không, và căn cứ nào để pháp luật công nhận quyền này? Mời Quý vị cùng theo dõi bài đọc dưới đây để biết thêm thông tin chi tiết.
I. Một số vấn đề chung
1. Con riêng là gì?
Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm “con riêng”. Tuy nhiên, trên thực tế có thể hiểu con riêng là con của một bên vợ hoặc chồng với người khác, không phải là con chung của cả hai trong quan hệ hôn nhân hiện tại. Các trường hợp được xem là con riêng có thể kể đến: con của vợ hoặc chồng trong cuộc hôn nhân trước; con được sinh ra ngoài quan hệ hôn nhân (một bên có con với người khác trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ chưa đăng ký kết hôn); con của vợ hoặc chồng với người khác trong thời kỳ hôn nhân (không phải con chung) hoặc con nuôi riêng của vợ hoặc chồng.
2. Quyền thừa kế
Trước khi trả lời cho câu hỏi con riêng có được nhận thừa kế hay không, ta cần hiểu rõ hơn về khái niệm quyền thừa kế cũng như các nguyên tắc cơ bản mà pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực này. Cụ thể Điều 609 BLDS 2015 quy định như sau:
“Điều 609. Quyền thừa kế
Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.”
Theo đó, quyền thừa kế được hiểu là quyền của cá nhân trong việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết thông qua việc lập di chúc hoặc để lại di sản theo pháp luật, đồng thời cũng là quyền của người thừa kế được hưởng phần di sản đó theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Quy định này thể hiện 02 nội dung cốt lõi: một là quyền tự do định đoạt tài sản của người để lại di sản, hai là quyền hưởng di sản của người thừa kế, không chỉ giới hạn ở cá nhân mà còn có thể bao gồm cả tổ chức (có tư cách pháp nhân) nếu được chỉ định trong di chúc.
Ngoài ra, Điều 610 BLDS 2015 khẳng định nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ thừa kế, cụ thể như sau:
“Điều 610. Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân
Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.”
Theo đó, mọi cá nhân đều bình đẳng trong việc để lại tài sản và hưởng di sản, không bị phân biệt bởi các yếu tố như giới tính, tình trạng hôn nhân hay hoàn cảnh sinh ra. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét quyền thừa kế của con riêng, bởi lẽ nó đặt ra cơ sở pháp lý để đảm bảo rằng, nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, mọi cá nhân đều có cơ hội được hưởng di sản như nhau. Từ đó có thể thấy rằng, việc xác định con riêng có được nhận thừa kế hay không sẽ phụ thuộc vào các quy định cụ thể về quan hệ pháp lý và điều kiện hưởng thừa kế theo pháp luật hiện hành.
3. Về chủ thể
Tiếp nối các quy định trên, Điều 613 BLDS 2015 đã xác định rõ chủ thể của quan hệ thừa kế, đó là “người thừa kế”:
“Điều 613. Người thừa kế
Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”
Có thể thấy, điều luật này không chỉ xác định điều kiện tồn tại của người thừa kế mà còn là cơ sở để xem xét một cá nhân hay tổ chức có đủ tư cách hưởng di sản hay không.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đáp ứng điều kiện về chủ thể đều đương nhiên được hưởng di sản. Điều 621 BLDS 2015 đã đặt ra những giới hạn nhất định thông qua việc quy định các trường hợp không được quyền hưởng di sản, cụ thể:
“Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản
1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”
Có thể thấy, đối với những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản; vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng; có hành vi gian dối, cưỡng ép, can thiệp trái pháp luật vào việc lập di chúc,.. sẽ bị tước quyền hưởng di sản. Tuy nhiên, pháp luật cũng ghi nhận một ngoại lệ quan trọng tại Khoản 2 Điều này, đó là trong trường hợp người để lại di sản đã biết rõ hành vi của những người này nhưng vẫn thể hiện ý chí cho họ hưởng di sản thông qua di chúc, thì họ vẫn có thể được nhận phần di sản theo ý chí đó. Điều này cho thấy pháp luật vẫn tôn trọng quyền tự định đoạt của người để lại di sản, đồng thời dung hòa giữa yếu tố pháp lý và yếu tố ý chí cá nhân.
Từ các quy định trên, có thể thấy rằng để được hưởng thừa kế, một cá nhân hay tổ chức không chỉ cần đáp ứng điều kiện về tư cách chủ thể mà còn phải không thuộc các trường hợp bị pháp luật loại trừ quyền hưởng di sản.

II. Con riêng có được nhận thừa kế hay không?
1. Trường hợp có di chúc:
1.1. Di chúc có chia phần cho con riêng
Nếu trong di chúc của cha, mẹ có chỉ định cho con riêng được hưởng di sản, thì người con riêng này hoàn toàn có quyền nhận phần di sản đó, với yêu cầu là con riêng phải đáp ứng các điều kiện về chủ thể tại Điều 613 và không thuộc các trường hợp bị loại trừ theo Điều 621 BLDS 2015.
1.2. Di chúc không chia phần cho con riêng
Ngược lại, trong trường hợp di chúc không đề cập hoặc không để lại phần di sản cho con riêng thì cần xem xét quy định tại Điều 644 về “Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”, cụ thể như sau:
“Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”
Theo đó, nếu con riêng thuộc trường hợp chưa thành niên hoặc đã thành niên mà không có khả năng lao động thì được hưởng một phần di sản bằng ⅔ suất của một người thừa kế theo pháp luật dù họ không được chỉ định trong di chúc.
Ví dụ 1:
Ông A có một người con riêng là B (đã thành niên, có công việc ổn định). Trong di chúc, ông A để lại toàn bộ tài sản cho C, không đề cập đến B. Trong trường hợp này B không được nhận thừa kế vì:
– B không được chỉ định trong di chúc
– B đã thành niên và có khả năng lao động: Không thuộc đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Điều 644.
Ví dụ 2:
B là con riêng chưa thành niên của ông A. Trong di chúc, ông A không để lại tài sản cho B. Trong trường hợp này, B được nhận thừa kế vì B thuộc đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Điều 644.
Ví dụ 3:
C là vợ ông A, C và người khác có con riêng là B, ông A không nhận nuôi B và cũng không có quan hệ huyết thống với B. Trong di chúc, ông A chỉ để lại tài sản cho vợ và con ruột, không nhắc đến B. Trong trường hợp này, B không được hưởng thừa kế từ di chúc của ông A vì:
– Không được chỉ định trong di chúc
– Không có quan hệ pháp lý cha đẻ – con riêng: Không thuộc đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Điều 644.
Tóm lại, trong trường hợp di chúc có chỉ định cho con riêng được hưởng phần di sản thừa kế, nếu con riêng đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể và không thuộc trường hợp bị loại trừ tại Điều 613 và 621 BLDS 2015 thì được nhận phần di sản thừa kế theo di chúc. Còn trong trường hợp di chúc không chỉ định cho con riêng nhận thừa kế, nếu thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 644 BLDS 2015 thì con riêng được nhận thừa kế theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp thừa kế theo pháp luật:
Trường hợp người để lại di sản không lập có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, việc phân chia di sản được thực hiện theo quy định của pháp luật. Khi đó, quyền thừa kế của con riêng không còn phụ thuộc vào ý chí của người chết mà được xác định dựa trên quan hệ pháp lý với người để lại di sản và thứ tự hàng thừa kế do pháp luật quy định, cụ thể như sau:
“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Có thể thấy, Điều này nhắc đến yếu tố để xác định việc con riêng có được hưởng thừa kế hay không phụ thuộc vào việc họ có được xác định là “con đẻ” hay “con nuôi hợp pháp” của người để lại di sản hay không.
Trường hợp đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể tại Điều 613 và không thuộc các trường hợp bị loại trừ tại Điều 621 BLDS 2015. Nếu con riêng thực chất là con đẻ của người chết (dù được sinh ra trong hay ngoài quan hệ hôn nhân), thì vẫn được pháp luật công nhận là người thừa kế thuộc hàng thứ nhất và được hưởng phần di sản ngang bằng với các đồng thừa kế cùng hàng. Ngược lại, nếu con riêng không có quan hệ huyết thống hoặc không được nhận làm con nuôi hợp pháp với người để lại di sản, thì sẽ không thuộc diện được hưởng thừa kế theo pháp luật.
Ngoài ra, Điều 651 cũng quy định nguyên tắc những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau và chỉ khi không còn ai ở hàng thừa kế trước thì những người ở hàng sau mới được hưởng. Điều này càng khẳng định rằng, việc xác định đúng quan hệ pháp lý giữa con riêng và người để lại di sản là yếu tố then chốt để xác định quyền thừa kế của họ trong từng trường hợp cụ thể.
Ví dụ 1: Con riêng là con đẻ được hưởng thừa kế
Ông A có một người con riêng là B (con với vợ lẽ, nhưng đã được xác định là con ruột của ông A). Khi ông A chết không để lại di chúc, di sản được chia theo pháp luật. Trong trường hợp này B đã được xác định là con đẻ, thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Do vậy B được hưởng phần di sản bằng với các người con khác.
Ví dụ 2: Con riêng được nhận làm con nuôi được hưởng thừa kế
B là con riêng của vợ ông A, nhưng trong quá trình chung sống, ông A đã làm thủ tục nhận B làm con nuôi hợp pháp, khi ông A chết không có di chúc. Trong trường hợp này B được xác định là con nuôi hợp pháp, thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng di sản như con đẻ.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng việc con riêng có được nhận thừa kế hay không không phụ thuộc vào cách gọi “con riêng”, mà chủ yếu dựa trên quan hệ pháp lý giữa người đó với người để lại di sản và các quy định cụ thể của pháp luật dân sự. Trong trường hợp có di chúc, quyền hưởng thừa kế của con riêng trước hết phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc, nhưng vẫn có thể được bảo vệ trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật. Ngược lại, khi thừa kế theo pháp luật, chỉ những người con có quan hệ huyết thống hoặc được xác lập quan hệ nuôi dưỡng hợp pháp với người chết mới thuộc diện được hưởng di sản.
Như vậy, pháp luật hiện hành không phân biệt “con riêng” hay “con chung”, mà đề cao nguyên tắc bình đẳng và căn cứ vào mối quan hệ hợp pháp để xác định quyền thừa kế. Điều này vừa đảm bảo sự công bằng trong phân chia di sản, vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân trong các mối quan hệ gia đình có tính chất phức tạp.
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Con riêng có được nhận thừa kế không?”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.