KHI NÀO THÌ ĐƯỢC KẾT HÔN? 

11/05/2026
KHI NÀO THÌ ĐƯỢC KẾT HÔN? 

Kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, hai người có tình cảm với nhau đều có thể tiến tới hôn nhân. Pháp luật Việt Nam quy định rõ các điều kiện để việc kết hôn được công nhận là hợp pháp, đồng thời cũng liệt kê những trường hợp bị cấm nhằm đảm bảo trật tự xã hội, đạo đức và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Việc tìm hiểu rõ những quy định về điều kiện kết hôn sẽ giúp mỗi cá nhân chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời tránh các vi phạm không đáng có. Sau đây, mời Quý vị cùng theo dõi bài viết “Khi nào được kết hôn?” để biết thêm thông tin chi tiết.

1. Khi nào được kết hôn?

Để xác định một quan hệ hôn nhân có được pháp luật công nhận hay không, trước hết cần xem xét các điều kiện kết hôn do pháp luật quy định. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo việc kết hôn được xác lập trên nền tảng tự nguyện, hợp pháp và phù hợp với chuẩn mực xã hội. Theo đó, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã quy định cụ thể các điều kiện mà nam, nữ phải đáp ứng khi kết hôn như sau:

“Điều 8. Điều kiện kết hôn

1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”

Thứ nhất, về độ tuổi: Nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên. Quy định này đã hình thành từ năm 1959 – thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình được ban hành lần đầu, nhằm bảo đảm sự phát triển đầy đủ về thể chất, tâm lý cũng như khả năng nhận thức để thực hiện trách nhiệm trong đời sống hôn nhân. 

Tuy nhiên trên thực tế, tình trạng tảo hôn vẫn còn diễn ra ở một số vùng dân tộc thiểu số, một phần vì quy định về độ tuổi kết hôn chưa được phổ biến trong nhận thức của người dân, ngoài ra còn do phong tục, tập quán vùng miền. Do đó, cần có sự phối hợp trong việc tuyên truyền pháp luật và công tác quản lý địa phương để quy định về độ tuổi kết hôn thực sự phát huy hiệu quả trong thực tiễn, góp phần bảo đảm chất lượng của quan hệ hôn nhân và sự phát triển lành mạnh của xã hội.

Thứ hai, về ý chí: Việc kết hôn phải do 02 bên nam, nữ tự nguyện quyết định. Đây là nguyên tắc cốt lõi của hôn nhân. Mặc dù pháp luật quy định rõ ràng về sự tự nguyện của các chủ thể, song trên thực tế vẫn còn tồn tại các trường hợp kết hôn do áp lực gia đình, ép cưới hoặc vì mục đích kinh tế (ví dụ: lấy chồng/vợ nước ngoài để cải thiện điều kiện sống). Những trường hợp này tuy khó chứng minh là “cưỡng ép” về mặt pháp lý, nhưng lại đặt ra vấn đề về tính thực chất của sự tự nguyện. 

Thứ ba, điều kiện không bị mất năng lực hành vi dân sự nhằm bảo đảm người kết hôn có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Đây là quy định hợp lý, bởi hôn nhân kéo theo nhiều quyền và nghĩa vụ pháp lý phức tạp. Tuy nhiên, trong thực tiễn có thể phát sinh tình huống như: một bên bị bệnh tâm thần nhưng chưa có quyết định của Tòa án tuyên mất năng lực hành vi dân sự, khi đó, việc xác định điều kiện kết hôn có thể gặp khó khăn.

Đáng chú ý, quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” thể hiện cách tiếp cận trung dung của pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. So với trước đây (khi pháp luật từng cấm kết hôn cùng giới), quy định hiện hành đã “mở” hơn ở chỗ không cấm nhưng cũng không công nhận. Có thể thấy, quy định này đã cởi mở hơn trước, tuy nhiên so với bối cảnh hiện nay, khi mà vấn đề hôn nhân đồng giới vẫn đang được tranh luận, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định là điều vô cùng cần thiết để lấp đầy các khoảng trống pháp lý và phù hợp với xu hướng xã hội.

Bên cạnh các quy định về chủ thể, về mặt hình thức, pháp luật cũng đặt ra một số yêu cầu nhất định khi kết hôn. Theo đó, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo pháp luật, việc kết hôn không được đăng ký thì không có giá trị pháp lý, cụ thể tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

“Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.”

2. Các trường hợp cấm kết hôn

Bên cạnh việc quy định các điều kiện để kết hôn hợp pháp, pháp luật còn đặt ra những giới hạn nhằm loại trừ các trường hợp không được phép xác lập quan hệ hôn nhân. Đây là cơ sở quan trọng để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, giữ gìn trật tự, đạo đức xã hội và phòng ngừa các hệ lụy tiêu cực có thể phát sinh. Theo đó, khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã liệt kê cụ thể các hành vi bị cấm, trong đó bao gồm những trường hợp không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng. 

“2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

…”

Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo bị pháp luật nghiêm cấm vì làm sai lệch bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình. Hôn nhân về nguyên tắc phải nhằm mục đích xây dựng gia đình bền vững, trong khi kết hôn giả tạo thường hướng đến các lợi ích khác như nhập quốc tịch, xuất cảnh, hợp thức hóa giấy tờ hoặc trục lợi tài sản. Trên thực tế, các trường hợp kết hôn với người nước ngoài để định cư là ví dụ điển hình, gây khó khăn cho công tác quản lý và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho chính người trong cuộc. Do đó, việc cấm hành vi này nhằm bảo vệ giá trị đích thực của hôn nhân và ngăn chặn việc lợi dụng pháp luật để trục lợi. 

Việc tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn bị cấm vì xâm phạm trực tiếp đến nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân. Đặc biệt, tảo hôn không chỉ vi phạm điều kiện về độ tuổi mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, học tập và tương lai của người chưa thành niên. Trong khi đó, cưỡng ép hoặc lừa dối kết hôn làm mất đi ý chí tự do của các bên, khiến quan hệ hôn nhân không còn ý nghĩa thực chất. Thực tế hiện nay vẫn ghi nhận tình trạng ép kết hôn theo ý gia đình hoặc môi giới hôn nhân thiếu minh bạch. Vì vậy, quy định này nhằm bảo vệ quyền tự do cá nhân và bảo đảm hôn nhân được xác lập đúng với bản chất của nó.

Tiếp đến, hành vi được quy định tại điểm c là hành vi bị cấm để bảo đảm nguyên tắc một vợ một chồng và duy trì sự ổn định, bền vững của gia đình. Việc một người đồng thời tồn tại nhiều quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ thực tế như vợ chồng không chỉ làm phát sinh mâu thuẫn về tình cảm mà còn kéo theo nhiều tranh chấp phức tạp về tài sản và quyền nuôi con. Thực tiễn cho thấy, không ít trường hợp người đang có vợ hoặc chồng vẫn thiết lập quan hệ chung sống với người khác như vợ chồng, qua đó xâm phạm trực tiếp đến nguyên tắc chung thủy trong hôn nhân. 

Thứ tư, kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống gần hoặc quan hệ gia đình đặc biệt bị cấm trên cả phương diện đạo đức và khoa học. Về mặt sinh học, hôn nhân cận huyết có nguy cơ cao làm phát sinh các bệnh di truyền, ảnh hưởng đến chất lượng giống nòi. Về mặt xã hội, các quan hệ như cha – con, anh – em hay những người trong phạm vi ba đời nếu kết hôn sẽ đi ngược lại chuẩn mực đạo đức, gây phản cảm và làm rối loạn trật tự gia đình. Mặc dù các trường hợp này không phổ biến, nhưng vẫn có thể xảy ra ở một số cộng đồng khép kín hoặc do thiếu hiểu biết. Do đó, quy định cấm mang tính tuyệt đối được đặt ra nhằm phòng ngừa từ sớm và bảo vệ cả yếu tố sinh học lẫn giá trị đạo đức xã hội.

Có thể thấy, việc kết hôn theo pháp luật Việt Nam không chỉ đơn thuần là sự thỏa thuận giữa hai cá nhân mà còn phải đặt trong khuôn khổ các điều kiện và giới hạn pháp lý nhất định. Các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8 nhằm bảo đảm hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ độ tuổi và năng lực nhận thức, trong khi các trường hợp cấm tại khoản 2 Điều 5 đóng vai trò như những hàng rào pháp lý để ngăn chặn các quan hệ hôn nhân trái với đạo đức, trật tự xã hội và lợi ích chung. Thông qua đó, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ hôn nhân mà còn hướng đến việc xây dựng một chế độ hôn nhân tiến bộ, ổn định và bền vững trong thực tiễn.

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Khi nào thì được kết hôn?”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật