Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định trong tố tụng dân sự

07/08/2024
Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định trong tố tụng dân sự

Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015). Khi nào thì cần giám định và quy định pháp luật về biện pháp này như thế nào?

1. Ý nghĩa của việc giám định trong tố tụng dân sự

Trong quá trình giải quyết vụ án, việc dân sự, có những trường hợp cần phải được tiến hành giám định, có sự tham gia của người giám định thì mới có thể đánh giá được khách quan, toàn diện vụ án, việc dân sự đó. Thậm chí, có những trường hợp mà kết quả, kết luận giám định còn là cơ sở quan trọng, gần như ảnh hưởng đến toàn bộ phán quyết của Toà án như giám định như giám định về việc mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự, giám định về nguyên nhân gây ra thiệt hại,…

2. Căn cứ pháp lý

Giám định là một trong những biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ thông qua Toà án trực tiếp trưng cầu giám định hoặc đương sự yêu cầu giám định được quy định tại điểm g khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015:

Điều 97. Xác minh, thu thập chứng cứ

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ bằng những biện pháp sau đây:

g) Yêu cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản;

Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Tòa án có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:

c) Trưng cầu giám định.”

Biện pháp này được quy định chi tiết tại khoản 1, khoản 2 Điều 102 BLTTDS 2015 như sau:

Điều 102. Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định

Đương sự có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.

Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.”

Việc tiến hành giám định còn được điều chỉnh bởi Luật Giám định tư pháp 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020. Theo đó, có thể được tiến hành thông qua 02 hình thức: trưng cầu giám định hoặc yêu cầu giám định.

2.1. Trưng cầu giám định

Theo khoản 2 Điều 102 BLTTDS 2015, trưng cầu giám định là quyết định của Toà án khi có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết.

2.2. Yêu cầu giám định

Theo khoản 1 Điều 102 BLTTDS 2015, yêu cầu giám định là quyền của đương sự được yêu cầu Toà án trưng cầu giám định. Cũng theo quy định tại khoản này và quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật giám định tư pháp năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020, quyền tự mình yêu cầu giám định của đương sự chỉ phát sinh khi Toà án từ chối yêu cầu của đương sự.

Điều 22. Quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giám định tư pháp

Người yêu cầu giám định có quyền gửi văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu trưng cầu giám định, phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản. Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định.”

Trưng cầu giám định

3. Quy định pháp luật về người giám định

Trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu người giám định giải thích kết luận giám định, triệu tập người giám định đến phiên tòa, phiên họp để trực tiếp trình bày về các nội dung cần thiết. Trường hợp người giám định vắng mặt thì tuỳ trường hợp Toà án có thể tiếp tục tiến hành xét xử hoặc cho hoãn phiên toà (khoản 3 Điều 102, Điều 230 BLTTDS 2015).

Người giám định được quy định tại Điều 79 BLTTDS 2015 như sau:

Điều 79. Người giám định

Người giám định là người có kiến thức, kinh nghiệm cần thiết theo quy định của pháp luật về lĩnh vực có đối tượng cần giám định mà Tòa án trưng cầu giám định hoặc được đương sự yêu cầu giám định theo quy định tại Điều 102 của Bộ luật này.”

Điều 80 BLTTDS 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của người giám định như sau:

Điều 80. Quyền, nghĩa vụ của người giám định

Người giám định có quyền, nghĩa vụ sau đây:

a) Được đọc tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến đối tượng giám định; yêu cầu Tòa án cung cấp tài liệu cần thiết cho việc giám định;

b) Đặt câu hỏi đối với người tham gia tố tụng về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định;

c) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trình bày, giải thích, trả lời những vấn đề liên quan đến việc giám định và kết luận giám định một cách trung thực, có căn cứ, khách quan;

d) Phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án về việc không thể giám định được do việc cần giám định vượt quá khả năng chuyên môn, tài liệu cung cấp phục vụ cho việc giám định không đủ hoặc không sử dụng được;

đ) Phải bảo quản tài liệu đã nhận và gửi trả lại Tòa án cùng với kết luận giám định hoặc cùng với thông báo về việc không thể giám định được;

e) Không được tự mình thu thập tài liệu để tiến hành giám định, tiếp xúc với người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến kết quả giám định; không được tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết khi tiến hành giám định hoặc thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ Thẩm phán quyết định trưng cầu giám định;

g) Được thanh toán các chi phí có liên quan theo quy định của pháp luật;

h) Phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

Người giám định phải từ chối giám định hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau đây:

a) Thuộc một trong những trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 52 của Bộ luật này và tại Điều 34 của Luật giám định tư pháp;

b) Họ đã tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người phiên dịch trong cùng vụ án đó;

c) Họ đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.”

4. Một số quy định liên quan

4.1. Giám định chứng cứ bị tố là giả mạo

Trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì người đưa ra chứng cứ đó có quyền rút lại; nếu không rút lại thì người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Tòa án có quyền quyết định trưng cầu giám định theo quy định tại Điều 102 của BLTTDS 2015.

Trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án chuyển tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Người đưa ra chứng cứ được kết luận là giả mạo phải bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác và phải chịu chi phí giám định nếu Tòa án quyết định trưng cầu giám định.

4.2. Giám định bổ sung, giám định lại

Khoản 4, khoản 5 Điều 102 BLTTDS quy định về việc giám định bổ sung, giám định lại.

Giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc đã được kết luận giám định trước đó. Giám định bổ sung là giám định những nội dung, những vấn đề chưa được giám định mà có liên quan đến việc giám định lần đầu. Việc giám định lại thực hiện theo yêu cầu của đương sự hoặc Toà án xét thấy cần thiết.

Giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật giám định tư pháp.

Hoài Anh

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định trong tố tụng dân sự”.  Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật