Chứng cứ là gì trong tố tụng dân sự? Có phải bất cứ sự vật, sự việc gì cũng được xem là chứng cứ?
1. Chứng cứ là gì?
Theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015), chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ việc, vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.
2. Các đặc tính của chứng cứ
Dựa trên khái niệm đã dẫn, có thể thấy chứng cứ bao gồm 03 đặc tính:
– Tính khách quan;
– Tính liên quan;
– Tính hợp pháp.
2.1. Tính khách quan
Tính khách quan là những gì có thật. Có thật thể hiện ở hai yếu tố: (i) có sự tồn tại dưới dạng vật chất khách quan và (ii) phản ánh sự thật khách quan.
Có sự tồn tại dưới dạng vật chất khách quan có nghĩa là một chứng cứ phải là một sự vật tồn tại độc lập, có sẵn mà không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người, tức là có thể cảm nhận được thông qua các giác quan: có thể cầm, nắm, nghe, nhìn,… và chỉ có thể có được thông qua thu thập, nghiên cứu, đánh giá mà không thể được tạo ra. Chứng cứ có thể tồn tại dưới dạng văn bản, tài liệu, băng đĩa, vật cụ thể…
Từ yếu tố trên dẫn đến chứng cứ phải phản ánh được sự thật khách quan. Mọi thông tin, tài liệu, đồ vật dù tồn tại trên thực tế nhưng bị xuyên tạc, bóp méo hay bị làm giả theo ý chí chủ quan thì không còn mang tính khách quan và không thể là chứng cứ của vụ việc, vụ án được.
2.2. Tính liên quan
Tính liên quan của chứng cứ thể hiện ở mối liên hệ khách quan của các thông tin, tài liệu với các tình tiết của vụ án cần được xác định. Mối liên hệ này phục vụ theo cách trực tiếp và gián tiếp đối với quá trình giải quyết vụ án.
Trực tiếp đối với những đồ vật, thông tin, tài liệu có nhiệm vụ chứng minh, làm sáng tỏ, nhằm giải quyết những gì là bản chất của vụ án.
Ví dụ: Trong một vụ án tranh chấp vay tài sản giữa A là bên vay và B là bên cho vay, thì giấy vay tiền với chữ ký, điểm chỉ cùng với số tiền, cam kết ghi trong giấy vay là chứng cứ có mối liên hệ trực tiếp đối với vụ án. Chứng cứ này xác định: (i) hợp đồng vay có tồn tại, (ii) đây là tranh chấp vay tài sản và (iii) các chủ thể và đối tượng của tranh chấp.
Gián tiếp là trong trường hợp đồ vật, thông tin, tài liệu đó đồ vật không được dùng làm căn cứ trực tiếp để giải quyết thực chất vụ án nhưng lại được dùng để xác định các tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Vẫn là ví dụ nêu trên, trong tình huống ngày A và B ký hợp đồng vay có C và D đang có mặt và chứng kiện sự kiện này thì lời khai của C và D mặc dù có thể không thể trực tiếp chứng minh, làm căn cứ để giải quyết vụ việc, vụ án nhưng có thể giúp cho cơ quan xét xử và các bên có cái nhìn rõ ràng, tổng quan hơn cũng như làm sáng tỏ được những tình tiết khác có ý nghĩa trong cùng vụ án.
Theo lẽ đó, những gì có thật, tồn tại khách quan nhưng không liên quan, không có ý nghĩa làm sáng tỏ tình tiết, nội dung vụ án cũng như không hỗ trợ cho việc giải quyết vụ việc, vụ án thì không được xem là chứng cứ.
2.3. Tính hợp pháp
Các tài liệu, đồ vật,… để trở thành chứng cứ phải được thu thập, bảo quản theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định thì mới có giá trị pháp lý. Tức là không phải những gì có thật, phản ánh sự thật khách quan và có liên quan đến vụ án đều được xem là chứng cứ.
Ví dụ: tin nhắn, ghi âm trong điện thoại, các bài đăng, thông tin trên các trang mạng xã hội,… mạng điện tử chưa thể là chứng cứ ngay được. Để trở thành chứng cứ, những thông tin này phải được:
– Thu thập theo đúng quy trình, phù hợp với quy định của pháp luật;
– Người nộp chứng cứ phải trình bày được nguồn gốc xuất xứ;
– Được xác minh bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Đối với các thông tin, tài liệu trong ví dụ này để trở thành chứng cứ cần phải được lập vi bằng thông qua hoạt động thừa phát lại.

3. Nguồn chứng cứ
Trong tố tụng dân sự, các tài liệu, thông tin, đồ vật được thu thập từ các nguồn sau đây có thể được xem xét là chứng cứ trong vụ việc dân sự cần giải quyết:
– Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử;
– Vật chứng;
– Lời khai của đương sự;
– Lời khai của người làm chứng;
– Kết luận giám định;
– Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
– Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;
– Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập;
– Văn bản công chứng, chứng thực;
– Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.
4. Xác định chứng cứ trong tố tụng dân sự
Theo quy định tại Điều 95 BLTTDS 2015, chứng cứ trong tố tụng dân sự được xác định như sau:
– Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận;
– Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó;
– Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử;
– Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc;
– Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định tại khoản 2 Điều này hoặc khai bằng lời tại phiên tòa;
– Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
– Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.
– Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
– Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
– Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
– Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.
Từ quy định trên có thể thấy, tùy theo loại chứng cứ mà phải được thu thập, xác định theo hình thức phù hợp, nếu không thì tài liêu, đồ vật, thông tin đó không được xem là chứng cứ.
Hoài Anh
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Xác định chứng cứ trong tố tụng dân sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.