Trên thực tế có nhiều trường hợp không thể tự bảo vệ quyền lợi, chăm sóc bản thân của mình như trẻ em mồ côi, người mất năng lực hành vi dân sự, hay những người gặp khó khăn trong nhận thức,…. Khi đó, chế định giám hộ đóng vai trò như một “tấm lá chắn” pháp lý, đảm bảo họ được quan tâm, chăm sóc và bảo vệ. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể trở thành người giám hộ, và việc này phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Vậy giám hộ là gì, và khác gì so với đại diện theo pháp luật? Mời Quý vị cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé.
1. Khái niệm về giám hộ, các trường hợp cần được giám hộ
Tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về giám hộ như sau:
“Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).”
Theo đó, không phải trường hợp nào cũng cần được giám hộ hay ai cũng có thể trở thành giám hộ mà phải được Tòa án chỉ định hoặc do UBND cấp xã cử giám hộ đối với các trường hợp cụ thể. Các trường hợp cần được giám hộ bao gồm:
– Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;
– Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;
– Người mất năng lực hành vi dân sự;
– Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Theo quy định hiện hành, một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu.
2. Người giám hộ, điều kiện của người giám hộ
Theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 46 và quy định tại Điều 48 BLDS 2015, người giám hộ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Mỗi cá nhân, pháp nhân có thể giám hộ cho nhiều người.
Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ. Trong trường hợp này, cá nhân, pháp nhân được chọn là người giám hộ nếu họ đồng ý và việc giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực.
Một cá nhân hay pháp nhân phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của BLDS thì mới được trở thành người giám hộ.
Đối với cá nhân, cần đáp ứng đủ các điều kiện:
– Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
– Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ;
– Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác;
– Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.
Đối với pháp nhân, cần đáp ứng đủ 02 điều kiện:
– Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ;
– Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
3. Quy định chung về đại diện của cá nhân trong pháp luật dân sự
Theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 134 BLDS, đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Theo quy định hiện hành tại BLDS, có 02 hình thức đại diện của cá nhân: đại diện theo ủy quyền (được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện) và đại diện theo pháp luật (theo quy định của pháp luật hoặc do cơ quan có thẩm quyền chỉ định).
Đại diện theo pháp luật của cá nhân bao gồm:
– Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
– Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nếu được Tòa án chỉ định;
– Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện trong hai trường hợp nêu trên;
– Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Đại diện theo ủy quyền được xác lập giữa trên ủy quyền, thỏa thuận ủy quyền giữa các bên với nhau. Người được ủy quyền được thực hiện các hành vi pháp lý nằm trong phạm vi được ủy quyền.
4. Phân biệt giám hộ và đại diện của cá nhân trong pháp luật dân sự
Theo các nội dung đã được trình bày ở trên, có thể thấy, người giám hộ là người đại diện theo pháp luật của cá nhân, nhưng người đại diện của cá nhân có thể không phải là giám hộ. Cụ thể, Quý vị có thể theo dõi bảng so sánh sau:
| Tiêu chí | Giám hộ | Đại diện của cá nhân |
| Cơ sở pháp lý | Quy định về Giám hộ tại mục 4 Chương III BLDS 2015 | Quy định về đại diện tại Chương IX BLDS 2015 |
| Mục đích | Để người giám hộ thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ | Để người đại diện nhân danh, vì lợi ích của người được đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự |
| Đối tượng được giám hộ/được đại diện | Các trường hợp quy định cụ thể, bao gồm:
– Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ hoặc có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ; – Người mất năng lực hành vi dân sự; – Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
|
Cá nhân khác theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền. |
| Căn cứ xác lập | Theo quy định của pháp luật hoặc do cơ quan có thẩm quyền chỉ định/
Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền (trừ trường hợp giám hộ đương nhiên). |
Theo quy định của pháp luật hoặc theo ủy quyền. |
Hoài Anh
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Quy định về giám hộ, phân biệt giám hộ và đại diện của cá nhân trong dân sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.