Có thể nói trong quản lý nhà nước, Quyết định hành chính có vai trò đặc biệt quan trọng, được coi như một công cụ cơ bản và không thể thiếu của các chủ thể quản lý sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý của mình. Quyết định hành chính thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, của cơ quan, tổ chức khác hoặc người có chức vụ trong cơ quan, tổ chức đó được Nhà nước giao quyền thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính. Do đó, Quyết định hành chính mang tính quyền lực nhà nước và tính pháp lý.
Tại Khoản 1, Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 giải thích “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.”
Tuy nhiên, trong quá trình ban hành các Quyết định hành chính thì không thiếu những trường hợp các quyết định đó vi phạm các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về nội dung cũng như trình tự thủ tục ban hành. Do đó Nhà nước cũng có những công cụ giúp những chủ thể bị Quyết định hành chính hoặc có nội dung làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cụ thể là cá nhân, tổ chức cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm có thể khiếu nại theo Luật khiếu nại hoặc khởi kiện theo Luật tố tụng hành chính.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 115 Luật Tố tụng hành chính 2015 thì Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó.
Tuy nhiên không phải Quyết định hành chính nào cũng là đối tượng khởi kiện ,Tại Khoản 2, Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015 “Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.” Để trở thành đối tượng khởi kiện hành chính thì Quyết định hành chính đó phải mang tính cá biệt. Đây là đặc điểm để phân biệt giữa Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện với các Quyết định hành chính khác.Biểu hiện về tính cá biệt của Quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện quy định tại Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là làm phát sinh, thay đổi quyền, lợi ích, nghĩa vụ của chủ thể phải chấp hành. Trong khi, Quyết định hành chính thông thường chỉ sẽ làm, chưa trực tiếp làm phát sinh, thay đổi quyền, lợi ích, nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ chấp hành. Thực sự, nhận thức về tính cá biệt của Quyết định hành chính có ý nghĩa quan trọng khi xác định đối tượng khởi kiện. Phần lớn những sai sót về đối tượng khởi kiện mà chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng mắc phải là do đánh giá sự tác động trực tiếp, ảnh hưởng trực tiếp của QĐHC đến đối tượng quản lý.

Luật tố tụng hành chính cũng quy định rõ “Quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức là những quyết định chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, chính sách, pháp luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức.” Vậy đối với trường hợp Quyết định hành chính mang tính nội bộ này có là đối tượng khởi kiện hành chính hay không? Câu trả lời là không.
Căn cứ theo Khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015 có quy định về khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như sau:
“1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây:
a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;
b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;
c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.”
Thời hiệu khởi kiện đối với Quyết định hành chính là 01 năm kể từ ngày nhận hoặc biết được Quyết định hành chính. Trường hợp nếu Quyết định hành chính đó bị khiếu nại thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quyết định giải quyết khiếu nại lần hai; hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền không giải quyết hoặc không có văn bản trả lời cho người khiếu nại.
Hiện nay, người dân và các tổ chức đã cởi mở và tự tin hơn trong việc Khiếu nại hay Khởi kiện hành chính, không còn nỗi e dè “Con kiến kiện củ khoai”, luật Tố tụng hành chính qua các thời kỳ cũng thay đổi theo hướng cởi mở hơn, trao nhiều quyền hạn và điều kiện hơn cho người khởi kiện. Trong đó thay đổi về thẩm quyền thụ lý, giải quyết và xét xử của Tòa án cũng là cách bảo vệ quyền và lợi ích của người khởi kiện. Về phía cơ quan quản lý hành chính cũng nên nhìn nhận vấn đề này theo hướng tích cực để hạn chế những sai sót, nâng cao năng lực cán bộ, tạo sự tin tưởng của người dân với chính quyền.
Trên đây là giải đáp của Luật Emerald về thắc mắc về “Quyết định hành chính được quy định trong Luật tố tụng hành chính”. Nếu các bạn cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, các bạn có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.
VT