Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền được bảo vệ trước các quyết định hành chính ngày càng trở nên quan trọng. Một trong những cơ chế pháp lý nhằm thực hiện mục tiêu này chính là tố tụng hành chính, thông qua việc cho phép các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện để yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của các quyết định, hành vi hành chính. Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình giải quyết các vụ án hành chính vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt trong mối quan hệ giữa người khởi kiện và cơ quan hành chính bị kiện. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân mà còn tác động đến niềm tin vào tính khách quan của hoạt động xét xử. Để hiểu rõ hơn về trình tự, thủ tục và thực tiễn xét xử vụ án hành chính, mời Quý vị cùng theo dõi nội dung dưới đây.
I. Khái quát về vụ án hành chính
1. Khái niệm
Vụ án hành chính theo quy định của pháp luật là vụ án phát sinh khi các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri của cơ quan nhà nước và được Tòa án thụ lý theo quy định của pháp luật.
2. Bản chất của vụ án hành chính
Bản chất của vụ án hành chính không phải là một tranh chấp thông thường giữa các chủ thể bình đẳng, mà là cơ chế tư pháp nhằm kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước. Trong đó, một bên là cá nhân, tổ chức bị tác động, còn bên kia là cơ quan hành chính, chủ thể nắm quyền lực công, nên tồn tại sự chênh lệch về vị thế. Vì vậy, việc xét xử vụ án hành chính thực chất là quá trình Tòa án đánh giá tính hợp pháp của hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính, qua đó bảo vệ quyền lợi của người dân và bảo đảm nguyên tắc pháp quyền.
Từ bản chất này, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm tranh tụng thực chất và sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan. Nếu đương sự, đặc biệt là người bị kiện vắng mặt thì không chỉ làm hạn chế khả năng làm rõ sự thật khách quan của vụ án mà còn làm suy giảm chức năng kiểm soát quyền lực của Tòa án.
II. Các chủ thể tham gia tố tụng hành chính
1. Người khởi kiện
Theo khoản 8 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015, người khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân (sau đây gọi chung là danh sách cử tri).
2. Người bị kiện
Theo khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015, người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bị khởi kiện.
Trong vụ án hành chính, người khởi kiện là chủ thể khởi động quá trình tố tụng, đồng thời cũng là bên yếu thế trong quan hệ pháp lý do chịu sự tác động trực tiếp từ hoạt động quản lý nhà nước. Vì vậy việc bảo đảm quyền khởi kiện và tạo điều kiện cho họ tham gia đầy đủ vào quá trình tố tụng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện chức năng bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hành chính.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức, cá nhân tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình hoặc đương sự khác đề nghị và được Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) chấp nhận hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đây là chủ thể mang quyền lực công, có nghĩa vụ giải trình về tính hợp pháp của các quyết định, hành vi hành chính do mình thực hiện. Tuy nhiên trên thực tế, người bị kiện thường có xu hướng không tham gia hoặc tham gia mang tính hình thức, dẫn đến việc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chứng minh và giải trình làm rõ vụ án.
4. Người đại diện
Theo khoản 1 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính, người đại diện trong tố tụng hành chính bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Chủ thể này không chỉ thay mặt đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng mà còn trực tiếp tham gia cung cấp chứng cứ, trình bày ý kiến và tranh tụng tại phiên tòa. Qua đó, người đại diện góp phần bảo đảm quá trình xét xử được diễn ra liên tục, khách quan và đúng pháp luật.
5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Theo khoản 1 Điều 61, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong vụ án hành chính, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có thể là luật sư hoặc cán bộ pháp chế, các chủ thể này giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ lập luận, thu thập và trình bày chứng cứ, tham gia tranh tụng. Đối với người khởi kiện, đây là lực lượng giúp cân bằng vị thế với cơ quan hành chính.
Đáng chú ý, đối với người bị kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có vai trò giải trình và bảo vệ tính hợp pháp của quyết định hành chính. Tuy nhiên, trên thực tế, chủ thể này chưa được sử dụng hiệu quả, nhiều trường hợp không tham gia hoặc tham gia một cách hình thức, làm cho quá trình tranh tụng thiếu đi sự phản biện cần thiết từ phía cơ quan hành chính

III. Đối thoại, tranh tụng và vấn đề ủy quyền
1. Về quyền đối thoại, tranh tụng
Chủ thể của tranh tụng trong vụ án hành chính bao gồm người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bản chất của tranh tụng là quá trình các bên đưa ra chứng cứ, lập luận nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Theo nguyên tắc tranh tụng, trách nhiệm chứng minh thuộc về các đương sự, Tòa án chỉ đóng vai trò hỗ trợ thu thập chứng cứ khi thật sự cần thiết, qua đó bảo đảm tính khách quan và công bằng trong xét xử.
Đối với hoạt động đối thoại, Điều 20 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định Tòa án có trách nhiệm tổ chức và tạo điều kiện để các đương sự đối thoại nhằm giải quyết vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả đối thoại còn rất hạn chế, chủ yếu do người bị kiện hoặc người đại diện của người bị kiện không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ. Điều này dẫn đến tỷ lệ đối thoại thành thấp, kéo dài thời gian giải quyết và làm gia tăng chi phí tố tụng.
Tại phiên tòa, tình trạng người bị kiện vắng mặt diễn ra khá phổ biến. Pháp luật hiện hành cho phép xét xử vắng mặt đương sự khi có đơn đề nghị, điều này vô hình trung tạo điều kiện để người bị kiện né tránh việc tham gia tố tụng. Hệ quả là quá trình tranh tụng không được thực hiện đầy đủ, nhiều trường hợp Tòa án phải tạm ngừng phiên tòa để thu thập bổ sung chứng cứ do người đại diện theo ủy quyền không có đủ thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng như sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, từ đó làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ xuất phát từ yếu tố khách quan về khối lượng công việc của người bị kiện, mà còn từ tâm lý e ngại tham gia tranh tụng. Trong nhiều trường hợp, người bị kiện hoặc người đại diện chỉ nắm tổng quát vụ việc, không hiểu sâu về căn cứ pháp lý và trình tự ban hành quyết định, dẫn đến tâm lý né tránh đối thoại và tranh luận tại Tòa án. Việc lựa chọn vắng mặt vì thế trở thành giải pháp “an toàn”, nhưng lại làm suy giảm chất lượng xét xử.
Điều này không chỉ gây bất lợi cho người dân mà còn làm suy giảm niềm tin vào vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ công lý, đặc biệt trong các vụ án mang tính chất “dân kiện cơ quan hành chính”.
2. Về vấn đề ủy quyền
Theo khoản 3 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định người bị kiện là cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình tham gia tố tụng, đồng thời người được ủy quyền phải tham gia xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người bị kiện. Quy định này nhằm bảo đảm người tham gia tố tụng có đủ thẩm quyền xem xét, đánh giá và quyết định đối với quyết định, hành vi hành chính bị kiện, từ đó nâng cao hiệu quả đối thoại và chất lượng tranh tụng. Nếu ủy quyền cho người không có thẩm quyền, việc tham gia tố tụng sẽ chỉ mang tính hình thức mà không là rõ được bản chất vụ án.
Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đề nghị xét xử vắng mặt và ủy quyền hình thức vẫn diễn ra phổ biến. Hay nhiều trường hợp tham gia nhưng không cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu, chứng cứ, buộc Tòa án phải hoãn phiên tòa. Điều này gây nên khó khăn trong hoạt động xét xử, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người khởi kiện và làm suy giảm niềm tin vào hiệu quả trong việc giải quyết vụ án hành chính.
IV. Trình tự giải quyết vụ án hành chính khi đương sự vắng mặt
Điều 157 Luật Tố tụng hành chính 2015 quy định về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa như sau:
“1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.
2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì xử lý như sau:
a) Đối với người khởi kiện, người đại diện theo pháp luật của người khởi kiện mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người khởi kiện có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
b) Đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
c) Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
d) Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”
Theo đó, tại lần triệu tập thứ nhất, nếu đương sự vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, bảo đảm quyền tham gia tố tụng của các bên. Tuy nhiên đến lần triệu tập thứ hai, pháp luật đặt ra nguyên tắc nghiêm khắc hơn, nếu đương sự vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì sẽ phải chịu các hậu quả pháp lý bất lợi tùy theo tư cách tham gia tố tụng.
Đáng chú ý, quy định này thể hiện sự không cân xứng về hậu quả pháp lý giữa các chủ thể. Đối với người khởi kiện, nếu vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu khởi kiện và Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án, đồng nghĩa với việc phải khởi kiện lại từ đầu nếu còn thời hiệu. Trong khi đó, đối với người bị kiện, pháp luật chỉ quy định Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt mà không đặt ra bất kỳ chế tài bất lợi tương ứng nào. Điều này cho thấy trách nhiệm tham gia phiên tòa của người bị kiện chưa được bảo đảm bằng cơ chế đủ mạnh.
Việc vắng mặt này không gây ra rủi ro pháp lý đáng kể cho người bị kiện, trong khi lại ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giải quyết vụ án. Cụ thể, sự vắng mặt của người bị kiện làm hạn chế khả năng đối chất, tranh luận và làm rõ các tình tiết vụ án, đặc biệt khi các cơ quan này là chủ thể nắm giữ phần lớn tài liệu, chứng cứ liên quan. Hệ quả là người khởi kiện dù có mặt vẫn có thể rơi vào tình trạng bất lợi trong việc chứng minh và bảo vệ quyền lợi của mình.
So sánh với quy định này tại Luật Tố tụng hành chính 2010:
|
Luật Tố tụng hành chính 2015 |
Luật Tố tụng hành chính 2010 |
| Điều 157. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa. 2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì xử lý như sau: a) Đối với người khởi kiện, người đại diện theo pháp luật của người khởi kiện mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người khởi kiện có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn; b) Đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ; c) Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn; d) Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ. |
Điều 131. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Toà án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên toà. 2. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau: a) Đối với người khởi kiện, người đại diện theo pháp luật mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người khởi kiện có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn; b) Đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ; c) Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn; d) Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ. |
So sánh Điều 157 Luật Tố tụng hành chính 2015 với Điều 131 Luật Tố tụng hành chính 2010 cho thấy, về cơ bản hai quy định có nội dung tương đồng trong việc xử lý sự có mặt của đương sự tại phiên tòa, đặc biệt là nguyên tắc triệu tập hợp lệ hai lần và hậu quả pháp lý khi vắng mặt. Tuy nhiên, điểm thay đổi đáng chú ý của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 là bổ sung thêm căn cứ “trở ngại khách quan” bên cạnh “sự kiện bất khả kháng” khi xem xét lý do vắng mặt của đương sự.
Thực tiễn cho thấy, người bị khởi kiện vụ án hành chính là các cơ quan thường vắng mặt tại các phiên tòa. Theo cả hai luật, khi bị triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà người bị kiện vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, với quy định mới của Luật năm 2015, việc mở rộng thêm căn cứ “trở ngại khách quan” lại có thể bị lạm dụng để hợp thức hóa việc vắng mặt của cơ quan nhà nước, bởi đây là khái niệm có phạm vi rộng và chưa được hướng dẫn cụ thể. Điều này dẫn đến nguy cơ các cơ quan bị kiện dễ dàng viện dẫn lý do để không tham gia phiên tòa mà không phải chịu bất lợi pháp lý đáng kể, trong khi việc tham gia phiên tòa là điều cần thiết để các bên có thể đối chất, làm rõ vấn đề.
Hệ quả là, mặc dù pháp luật cho phép xét xử vắng mặt người bị kiện, nhưng sự vắng mặt của các cơ quan hành chính, tức là chủ thể nắm giữ tài liệu, chứng cứ và có trách nhiệm giải trình lại ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và khả năng chứng minh của người khởi kiện (người dân). Người dân có thể gặp khó khăn trong việc đối chất, tranh luận hoặc làm rõ các tình tiết vụ án, từ đó làm giảm hiệu quả thực chất của quá trình tranh tụng. Như vậy, sự thay đổi trong Luật năm 2015, thay vì tăng cường trách nhiệm tham gia tố tụng của người bị kiện, trong một số trường hợp lại vô tình tạo điều kiện cho sự vắng mặt của cơ quan nhà nước, qua đó đặt người khởi kiện vào vị thế bất lợi hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

V. Thực trạng giải quyết vụ án hành chính
Việc các cơ quan hành chính – tức chủ thể bị khởi kiện thường không tham gia đầy đủ hoặc vắng mặt tại phiên tòa đã dẫn tới nhiều hậu quả tiêu cực, cụ thể:
Thứ nhất, làm mất đi bản chất tranh tụng của phiên tòa hành chính. Theo nguyên tắc tố tụng, phiên tòa phải là nơi để các bên có vấn đề tranh chấp trực tiếp đối thoại, tranh luận để làm rõ cơ sở ban hành và tính hợp pháp của các quyết định hành chính. Tuy nhiên, các cơ quan hành chính lại thường xuyên vắng mặt trong các phiên tòa này, điều đó đã dẫn tới việc người khởi kiện, vốn ở vị trí yếu thế hơn không có cơ hội đối chất, phản biện trực tiếp cũng như làm rõ được tính hợp pháp, hợp lý đối với quyết định hành chính do cơ quan ban hành.
Thứ hai, làm thay đổi vai trò của Tòa án. Việc vắng mặt của các cơ quan hành chính tại các phiên tòa xét xử vụ án hành chính không chỉ làm gián đoạn quá trình tranh tụng mà còn đẩy Tòa án vào thế phải gánh thay chức năng đối đáp, giải trình của bên bị kiện. Thay vì giữ vai trò là “trọng tài” xét xử khách quan dựa trên lập luận, tranh tụng giữa các bên, Tòa án thực tế lại phải chủ động đặt câu hỏi, làm rõ nội dung của quyết định hành chính, thậm chí gián tiếp “bổ khuyết” cho phần lập luận của cơ quan hành chính bị kiện. Trong trường hợp này, Tòa án vô hình trung trở thành chủ thể tranh luận thay cho cơ quan hành chính, thay vì là bên thứ ba đánh giá công tâm dựa trên chứng cứ, lập luận của các bên. Chính sự lệch chuẩn này đã làm cho niềm tin của người dân vào sự khách quan trong quá trình xét xử của Tòa án bị suy giảm.
Thứ ba, tác động đến kết quả giải quyết vụ án. Trên thực tế, đối với các vụ án hành chính, Tòa án thường bác yêu cầu của người khởi kiện hoặc giữ nguyên quyết định hành chính. Một trong những lý do được xác định đó là ngay từ đầu, việc tiếp cận chứng cứ đã trở thành rào cản đối với người khởi kiện, vì đa số chứng cứ chủ yếu nằm trong tay Cơ quan hành chính, người dân gặp khó khăn trong việc tự chứng minh lập luận của mình, cộng thêm việc các cơ quan vắng mặt tại phiên tòa, dẫn đến các vấn đề tranh chấp không được làm rõ đầy đủ, ảnh hưởng đến quá trình đưa ra kết luận giải quyết vụ án. Ngoài ra, cơ chế bảo vệ quyết định hành chính còn thiên lệch, Tòa án có xu hướng thận trọng hơn khi xem xét hủy quyết định hành chính, bởi nó tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý Nhà nước. Do vậy đối với các vụ án hành chính, khả năng người khởi kiện được chấp nhận yêu cầu trên thực tế là không cao, không chỉ xuất phát từ hạn chế trong khả năng tiếp cận và chứng minh chứng cứ, mà còn chịu tác động từ việc thiếu tranh tụng thực tế và tâm lý thận trọng của Tòa khi xem xét các quyết định hành chính.
VI. Giải pháp hoàn thiện
Từ những bất cập trong thực tiễn giải quyết vụ án hành chính, đặc biệt là tình trạng cơ quan hành chính không tham gia tranh tụng và sự mất cân bằng trong khả năng chứng minh giữa các bên, cần phải có các giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm tính công bằng và hiệu quả của hoạt động xét xử.
Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng ràng buộc trách nhiệm tham gia tố tụng của cơ quan hành chính. Cần bổ sung chế tài mạnh đối với trường hợp cơ quan vắng mặt không có lý do chính đáng. Ngoài ra, cần quy định rõ hơn nghĩa vụ giải trình, đối chất trực tiếp của cơ quan hành chính tại phiên tòa, nhằm làm rõ tính hợp pháp và hợp lý của các quyết định hành chính.
Thứ hai, tăng cường bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hành chính. Tòa án cần hạn chế tối đa việc đảm nhiệm thay chức năng của bên bị kiện, thay vào đó tập trung vào vai trò điều phối và đánh giá chứng cứ một cách khách quan. Việc nâng cao chất lượng tranh tụng không chỉ giúp làm rõ sự thật của vụ án mà còn góp phần củng cố niềm tin của người dân vào tính công bằng trong hoạt động xét xử.
Thứ ba, cải thiện cơ chế tiếp cận và thu thập chứng cứ của người khởi kiện. Pháp luật cần có quy định cụ thể hơn về nghĩa vụ cung cấp tài liệu của cơ quan hành chính, cũng như cơ chế buộc cung cấp chứng cứ một cách kịp thời, đầy đủ khi người dân có yêu cầu. Trong trường hợp cơ quan hành chính không thực hiện nghĩa vụ này, cần có hệ quả pháp lý rõ ràng theo hướng bất lợi cho họ, qua đó tạo sự cân bằng hơn trong khả năng lập luận và đưa ra chứng cứ giữa các bên; từ đó Tòa án có cơ sở để đánh giá một cách khách quan hơn đối với các vụ án hành chính.
Thứ tư, nâng cao trách nhiệm thi hành pháp luật và đổi mới cách tiếp cận trong hoạt động xét xử hành chính. Trước hết, cần xác định việc tham gia tố tụng không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính trước người dân, việc chủ động tham gia đối thoại, tranh tụng tại phiên tòa không chỉ giúp làm rõ tranh chấp về quyết định hành chính mà còn góp phần hạn chế khiếu kiện kéo dài và phức tạp. Đồng thời, Tòa án cũng cần đổi mới nhận thức trong quá trình xét xử, bảo đảm tính độc lập, khách quan, không bị chi phối bởi bất kỳ yếu tố nào. Việc giải quyết vụ án hành chính không chỉ dừng lại ở việc xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, mà cần được đặt trong yêu cầu thực chất là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Do đó, Tòa án cần mạnh dạn thực hiện đầy đủ chức năng kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua hoạt động xét xử, không mặc nhiên suy đoán tính đúng đắn của quyết định hành chính, cũng không hình thành tư duy thiên lệch có lợi cho cơ quan quản lý, từ đó bảo đảm phán quyết được đưa ra trên cơ sở khách quan, công bằng và đúng pháp luật.
Có thể thấy rằng, chỉ khi bảo đảm được sự tham gia thực chất của cơ quan hành chính và thiết lập được cơ chế tranh tụng bình đẳng, minh bạch, thì tố tụng hành chính mới thực sự phát huy vai trò là công cụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân đồng thời kiểm soát quyền lực nhà nước một cách hiệu quả.
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Trình tự, thủ tục và thực trạng giải quyết khi đương sự vắng mặt trong vụ án hành chính”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.
