Sửa đổi điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động- Dự thảo Luật việc làm

16/04/2024
Sửa đổi điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động- Dự thảo Luật việc làm

Nếu đề xuất dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) được thông qua thì khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định cũng không được hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Theo quy định hiện hành tại Điều 49 Luật Việc làm năm 2013, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp:

– Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

– Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.

Tuy nhiên, tại dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) quy định trên đã có sự điều chỉnh. Cụ thể, tại Điều 111 của dự thảo quy định người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi:

Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc đối với đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 97 Luật này theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:

– Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trừ các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước theo quy định Bộ luật Lao động;

– Người lao động bị sa thải theo pháp luật về lao động hoặc bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc theo pháp luật về viên chức;

– Người lao động hưởng lương hưu;

– Người lao đông đủ điều kiện hưởng lương hưu nhưng chưa hưởng lương hưu.

Đề xuất người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp khiến nhiều người lo lắng, hoang mang bởi:

Khi là người lao động, là người làm công hưởng lương và cuộc sống hoàn toàn phụ thuộc vào đồng lương và không ai muốn mình rơi vào cảnh thất nghiệp. Đôi khi người lao động phải chủ động xin nghỉ việc vì nhiều lý do và vì không có sự lựa chọn nào khác.

Hơn nữa, nếu cho rằng người lao động nghỉ việc để hưởng trợ cấp thất nghiệp thì hãy so sánh giữa thu nhập (gồm lương cơ bản, các khoản phụ cấp, tiền thưởng…) khi còn đi làm với trợ cấp thất nghiệp. Trợ cấp thất nghiệp chỉ được hưởng 60% lương cơ bản, thấp hơn nhiều so với thu nhập khi còn đi làm, số tiền này không đủ đảm bảo cuộc sống. Bên cạnh đó, Bảo hiểm thất nghiệp chỉ được hưởng tối thiểu 03 tháng, tối đa 12 tháng. Có thể thấy, số tiền nhận được từ bảo hiểm thất nghiệp và số thời gian hưởng bảo hiểm thất nghiệp chỉ là tạm bợ, giúp người lao động trang trải phần nào cuộc sống trong quá trình tìm công việc mới phù hợp chứ không thể nào làm nguồn nuôi sống của người lao động và gia đình họ.

Hiện nay, tình trạng chung của công ty cũng như tại các doanh nghiệp khác là đa phần lao động nghỉ việc đều xuất phát từ sự chủ động của người lao động. Tức người lao động tự xin nghỉ chứ không phải bị doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng hay sa thải. Lý do nghỉ việc thì rất nhiều chẳng hạn do hoàn cảnh gia đình, không có người chăm sóc con nhỏ, sức khỏe không đảm bảo, công việc không phù hợp…

Theo quy định hiện hành người lao động nghỉ việc đúng luật thì vẫn được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp (người lao động có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần lý do, chỉ cần tuân thủ đúng thời gian báo trước theo quy định- Điều 35 Bộ luật lao động 2019). Đây không chỉ là khoản bù đắp thu nhập trong thời gian người lao động nghỉ việc, chưa tìm được việc làm mới mà còn là quyền lợi chính đáng của người lao động khi tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo nguyên tắc có đóng- có hưởng. Do vậy, đề xuất trên không chỉ mâu thuẫn với tinh thần của Bộ luật Lao động mà còn hạn chế quyền lợi chính đáng của người tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

Bạn có thể xem toàn văn dự thảo và góp ý tại đây.

 

Tư vấn pháp luật