Từ ngày 1/7/2025, thẩm quyền hủy bỏ phán quyết trọng tài được phân công cho 3 TAND tỉnh, đó là: Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM theo Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15. Để hiểu rõ hơn về chủ đề này, Quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé!
1. Thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài của tòa án
Tòa án và trọng tài có một cơ chế hỗ trợ và giám sát đặc trưng. Việc hỗ trợ và giám sát của Tòa án giúp cho hoạt động trọng tài trở nên hiệu quả. Đồng thời, Nhà nước cũng thể hiện sự quản lý đối với các tổ chức trong xã hội, nêu cao quan điểm đa dạng hóa các phương thức giải quyết tranh chấp và tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế được bảo hộ các quyền và nghĩa vụ một cách tối đa.
Bằng cơ chế giám sát, pháp luật cho Tòa án thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài khi phán quyết đó vi phạm các quy tắc cơ bản của pháp luật hoặc sai phạm nghiêm trọng về trình tự thủ tục tố tụng trọng tài.
Điều 2 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong việc hủy phán quyết trọng tài, theo đó các tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài chỉ bao gồm 3 tòa án nhân dân cấp tỉnh, đó là:
– Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, có thẩm quyền theo lãnh thổ đối với 18 tỉnh, thành phố gồm: thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng; các tỉnh: Bắc Ninh, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa và Tuyên Quang;
– Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, có thẩm quyền theo lãnh thổ đối với 18 tỉnh, thành phố gồm: thành phố Đà Nẵng, thành phố Huế; các tỉnh: Đắk Lắk, Gia Lai, Khánh Hòa, Quảng Ngãi và Quảng Trị;
– Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, có thẩm quyền lãnh thổ đối với 09 tỉnh, thành phố gồm: thành phố Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh; các tỉnh: An Giang, Cà Mau, Đồng Nai, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Tây Ninh và Vĩnh Long.
2. Tại sao chỉ giao cho ba Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài là hợp lý?
Việc giao thẩm quyền xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài cho TAND cấp tỉnh tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM là hợp lý, xuất phát từ ba cơ sở chính.
Thứ nhất, về chuyên môn và tính kế thừa, TAND cấp tỉnh đã tích lũy kinh nghiệm thực tiễn vững chắc từ khi Luật Trọng tài thương mại 2010 có hiệu lực. Do đó, việc tiếp tục giao thẩm quyền cho cấp tỉnh một phần bảo đảm tính ổn định và nhất quán, một phần tránh những gián đoạn có thể phát sinh trong quá trình chuyển giao.
Thứ hai, về cơ cấu tổ chức, TAND khu vực được xác định là cấp sơ thẩm, trong khi trọng tài thương mại vốn được xem là cơ chế giải quyết tương đương cấp này. Do đó, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài cần được xem xét ở cấp cao hơn – tức TAND cấp tỉnh (chủ yếu thực hiện chức năng phúc thẩm) – nhằm bảo đảm tính khách quan và đúng nguyên tắc giám sát tư pháp.
Thứ ba, về thực tiễn, Hà Nội, Đà Nẵng và TP. HCM là các trung tâm kinh tế đứng đầu cả nước; đồng thời còn là nơi tập trung nhiều tổ chức trọng tài, doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài, với mật độ phát sinh các quan hệ kinh tế dày đặc. Chính vì lẽ đó, phần lớn tranh chấp trọng tài phát sinh tại ba thành phố này. Việc tập trung đầu mối thẩm quyền tại ba Tòa án này giúp tối ưu nguồn lực, nâng cao chất lượng giải quyết và thúc đẩy chuyên môn hóa, qua đó bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.

3. Tính không phù hợp của việc giao cho Tòa án nhân dân cấp khu vực thẩm quyền hủy quyết định trọng tài
Thực tế cho thấy, việc giao cho Tòa án cấp khu vực thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài tồn tại nhiều hạn chế:
Thứ nhất, Tòa án cấp khu vực là cấp tòa án mới được khai sinh, còn non trẻ về mặt chuyên môn, trong khi việc xem xét hủy phán quyết trọng tài lại đòi hỏi sự am hiểu về pháp luật thương mại và các thông lệ quốc tế.
Thứ hai, cơ chế hủy phán quyết trọng tài mang tính chất chung thẩm, không có sự kiểm soát của cấp cao hay không thể bị kháng cáo, kháng nghị. Chính vì thế, thủ tục này đòi hỏi kinh nghiệm và tính cẩn thận cao, bởi lẽ, chỉ cần một sai sót trong việc đánh giá bản chất pháp lý cũng có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý nghiêm trọng.
Cuối cùng, một trong những căn cứ của việc hủy phán quyết trọng tài là phán quyết trọng tài đó chính là: “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” (Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010). Quy tắc này đã được hướng dẫn tại điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam. Mặc dù đã có hướng dẫn, tuy nhiên, quy định này vẫn còn nhiều cách giải thích khác nhau và dẫn đến việc áp dụng không thống nhất. Do đó, nếu trao thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài cho tòa án khu vực, với các thẩm phán ít kinh nghiệm, thì việc giải thích và áp dụng pháp luật thiếu nhất quán sẽ có tỷ lệ gia tăng.
Tóm lại, việc giao thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài cho ba Tòa án nhân dân cấp tỉnh tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM là một lựa chọn hợp lý và có cơ sở vững chắc cả về pháp lý, tổ chức và thực tiễn. Cách tiếp cận này vừa phát huy được năng lực đã tích lũy của đội ngũ thẩm phán tại các địa phương có nhiều kinh nghiệm, vừa bảo đảm tính ổn định, thống nhất và chuyên môn hóa trong hoạt động giám sát trọng tài. Ngược lại, việc trao thẩm quyền này cho TAND cấp khu vực trong bối cảnh hiện nay tiềm ẩn nhiều rủi ro, do hạn chế về chuyên môn, kinh nghiệm và cơ chế kiểm soát. Do đó, duy trì thẩm quyền tại cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao chất lượng xét xử mà còn tạo dựng niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư vào một hệ thống tư pháp công bằng, chuyên nghiệp.
Nhựt Anh
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài theo Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn./.