Trên thực tế, không phải mọi trường hợp thừa kế đều diễn ra theo quy định pháp luật thông thường. Bộ Luật Dân sự còn dự liệu một số trường hợp thừa kế đặc biệt chẳng hạn như thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, thừa kế thế vị,…nhằm hướng dẫn rõ cách xử lý đối với từng trường hợp cụ thể. Vậy các trường hợp thừa kế đặc biệt đó được pháp luật quy định như thế nào? Bài viết dưới đây từ Luật Emerald cùng Quý vị tìm hiểu và hiểu rõ hơn quy định về các trường hợp thừa kế đặc biệt.
1. Trường hợp thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
1.1. Khái niệm người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là những cá nhân vẫn được hưởng một phần di sản thừa kế của người đã mất mặc dù không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc di chúc chỉ cho họ hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.
Quy định này nhằm đảm bảo quyền lợi cơ bản về tài sản đối với những người thân thuộc, có mối quan hệ chặt chẽ với người để lại di sản nhưng có thể bị bỏ sót hoặc bị tước quyền thừa kế trong di chúc. Đồng thời, hạn chế sự lạm dụng quyền lập di chúc trong trường hợp người lập di chúc dùng quyền của mình để tước đoạt tất cả quyền thừa kế của những người có mối quan hệ đặc biệt.
1.2. Đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc
Theo Điều 644 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về các đối tượng được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, bao gồm:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
– Con chưa thành niên
Tại Điều 21 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi, các giao dịch dân sự từ đối tượng này cần có người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
Theo đó, con chưa thành niên là con đẻ, con nuôi của người đã mất và dưới 18 tuổi. Bởi lẽ, luật không quy định rõ con đẻ, con nuôi hay con ngoài giá thú, điều này có thể hiểu rằng con chưa thành niên chỉ cần là con đã được sinh ra, không bao gồm con chưa được sinh ra hay còn đang là bào thai.
– Cha, mẹ của người để lại di sản
Bộ Luật Dân sự không quy định cụ thể “cha, mẹ” ở đây là cha, mẹ đẻ hay cha, mẹ nuôi của người để lại di sản nên có thể ngầm hiểu rằng “cha, mẹ” có thể là cha, mẹ đẻ hay cha, mẹ nuôi.
– Vợ, chồng của người để lại di sản
“Vợ, chồng” của người để lại di sản là quan hệ hôn nhân hợp pháp được đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo Luật Hôn nhân và gia đình ở tại thời điểm mở thừa kế.
Trong trường hợp ly hôn nhưng chưa chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, về nguyên tắc thì khối tài sản chung thông thường sẽ được chia đôi theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tuy nhiên, nếu một bên chết trước thì khối tài sản sẽ được xử lý như sau: một nửa tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người còn sống và nửa còn lại được xem là di sản của người đã mất để chia thừa kế. Tại thời điểm ly hôn nhưng bản án hoặc quyết định ly hôn chưa có hiệu lực pháp luật bao gồm cả việc chưa chia tài sản thì thời điểm người chồng hoặc vợ mất trong giai đoạn đó, vẫn còn tồn tại quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý nhưng có thể cả hai ly thân. Do đó, đối với trường hợp này, người chồng hoặc vợ còn sống đó vẫn có thể là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
– Con thành niên mà không có khả năng lao động
Theo Điều 20 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định “người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên”. Tương tự như đã phân tích ở trên, thì con thành niên bao gồm con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú. Tuy nhiên, người này thuộc trường hợp “mất khả năng lao động” rơi vào tình trạng không còn đủ điều kiện về sức khoẻ để tiếp tục tham gia quan hệ lao động theo quy định của pháp luật do bệnh tật, khuyết tật, v.v.
Tuy nhiên, quy định về các đối tượng trên không áp dụng với những người đã từ chối nhận di sản hay những người không có quyền hưởng di sản. Bởi những đối tượng này được xem như không có quyền thừa kế hoặc bị tước quyền thừa kế.

1.3. Cách tính phần thừa kế không phụ thuộc vào di chúc
Về nguyên tắc căn cứ theo Điều 644 Bộ Luật Dân sự 2015, những người thừa kế không phụ thuộc vào di chúc sẽ được hưởng một phần di sản bằng hai phần ba (2/3) suất của một người thừa kế theo pháp luật. Trong đó, một suất thừa kế theo pháp luật là phần di sản mà mỗi người được hưởng nếu tài sản được chia theo pháp luật.
Ví dụ minh họa:
Vợ chồng ông A, bà B kết hôn vào năm 1979, ông bà có 03 người con chung đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ bao gồm anh Q (21 tuổi), anh K (30 tuổi) và chị H (27 tuổi). Cha mẹ ông A đều mất sớm. Lúc sinh thời, giữa ông A và bà B luôn xảy ra mâu thuẫn nhưng đối với các con thì vẫn yêu thương, chăm sóc. Vào tháng 08/2024, ông A qua đời, có để lại di chúc nêu rõ truất quyền thừa kế của bà B và để lại toàn bộ tài sản cho các con. Sau khi biết được nội dung di chúc, biết mình bị truất quyền hưởng di sản, bà B đã làm đơn khởi kiện ra Tòa, yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông A. Tài sản ông A để lại là 1,2 tỷ đồng.
Theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015, trong tình huống trên mặc dù bà B bị truất quyền thừa kế, không được hưởng một suất thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, bà B vẫn được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo luật.
Cách xác định phần di sản bà B được hưởng như sau:
Hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 651 BLDS 2015 của ông A bao gồm: bà B, anh Q, anh K và chị H. Theo đó:
Một suất thừa kế theo pháp luật = 1,2 tỷ : 4 (B, Q, K, H) = 300.000.000 đồng;
Phần di sản bà B được hưởng = 300.000.000 x 2/3 = 200.000.000 đồng.
2. Trường hợp thừa kế thế vị
2.1. Khái niệm thừa kế thế vị
Căn cứ theo Điều 652 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định cụ thể về thừa kế thế vị như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống“.
Theo đó, thừa kế thế vị được hiểu là việc các con được thay vào vị trí của bố hoặc mẹ để hưởng di sản của ông bà trong trường hợp bố hoặc mẹ chết trước hoặc chết cùng ông bà; chắt hưởng phần di sản của cụ trong trường hợp cả cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà. Những người thừa kế thế vị được hưởng phần di sản mà bố, mẹ mình đáng lẽ được hưởng nếu còn sống và được chia đều di sản với những người thừa kế cùng hàng khác.
2.2. Các trường hợp thừa kế thế vị
Thứ nhất, cháu thế vị cha hoặc mẹ để hưởng di sản của ông bà.
Thứ hai, chắt thế vị cha hoặc mẹ của chắt để hưởng di sản của cụ.
2.3. Điều kiện phát sinh thừa kế thế vị
Một là, con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được thừa kế thế vị; trường hợp nếu cháu cũng chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng thừa kế thế vị.
Hai là, thừa kế thế vị chỉ phát sinh trên cơ sở thừa kế theo pháp luật và chỉ trong trường hợp con với cha, mẹ phải có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng giữa con nuôi và cha nuôi; giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế. Và không bị ảnh hưởng bởi nội dung di chúc.
Ba là, người thừa kế thế vị phải là người có quan hệ thuộc hàng thừa kế thứ nhất và người thế vị luôn ở vị trí đời sau (cháu hoặc chắt), tức là chỉ có con được thế vị cha, mẹ để hưởng phần di sản mà ông bà hoặc các cụ để lại nhưng ngược lại không xảy ra trường hợp cha mẹ được thế vị con để hưởng di sản của ông bà hoặc các cụ.
Bốn là, người thừa kế thế vị phải đảm bảo nguyên tắc chung về thừa kế được quy định tại Bộ luật dân sự. Theo đó người thừa kế thế vị phải còn sống vào thời điểm người để lại di sản chết hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế những đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Năm là, bản thân người thế vị không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản hay bị truất quyền hưởng di sản do di chúc hay pháp luật quy định. Thêm vào đó, khi còn sống, cha hoặc mẹ của người được thừa kế thế vị phải có quyền được hưởng di sản của người để lại di sản, nghĩa là họ không thuộc trường hợp bị truất quyền thừa hưởng di sản hay không được quyền hưởng di sản thì con hoặc cháu của họ mới được thừa kế thế vị.
Ví dụ minh họa:
Ông A có 2 người con là anh B và chị C. Anh B kết hôn với chị D, sinh ra 2 đứa con là E và F. Ông A mất không để lại di chúc. Do đó, di sản thừa kế được chia theo pháp luật cho vợ ông A, 2 con là anh B và chị C.
Tuy nhiên, anh B đã chết trước thời điểm với ông A nên phần di sản thừa kế mà anh B được thừa hưởng từ ông A nếu còn sống sẽ được chuyển sang cho 2 con của anh B là E và F cùng hưởng.

3. Các trường hợp không được hưởng di sản thừa kế
3.1. Trường hợp không được hưởng quyền thừa kế
Theo quy định tại Điều 621 Bộ Luật Dân sự 2015 thì những người không được hưởng quyền thừa kế bao gồm:
– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó: Đây là trường hợp người có quyền hưởng di sản thừa kế nhưng lại cố ý thực hiện các hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại đến người để lại di sản thì sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kế. Và những hành vi đó đã bị Tòa án có thẩm quyền kết án bằng một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
– Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản: Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng với người để lại di sản là người có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng với người mà người đó có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Nhưng trên thực tế, người này lại cố ý từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng làm cho người được cấp dưỡng (người để lại di sản) lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, nghĩa là người có nghĩa vụ cấp dưỡng đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ cấp dưỡng thì họ không có quyền hưởng di sản. Tuy nhiên, một người chỉ có thể bị tước quyền hưởng di sản khi có đủ cơ sở để khẳng định họ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản. Nếu không có cơ sở thì người đó vẫn được quyền hưởng di sản.
– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng: Khác với trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản phía trên, ở đây người thừa kế chỉ bị tước quyền hưởng di sản khi có hành vi xâm phạm đến tính mạng của người thừa kế và việc này nhằm hưởng một phần di sản. Cũng như trường hợp đã nói ở trên, người có các hành vi này phải bị kết án và phải là hành vi cố ý thì mới bị mất quyền hưởng di sản.
– Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Cần phải lưu ý rằng, những người nêu trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
3.2. Trường hợp truất quyền thừa kế
Theo quy định tại Điều 626 Bộ Luật Dân sự 2015 thì người lập di chúc có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.
Qua đó có thể hiểu, truất quyền thừa kế là việc người để lại di sản thừa kế không muốn để lại phần tài sản của mình cho một người nào đó và ý chí này được ghi vào di chúc hợp pháp. Đây là quyền của người để lại di chúc. Nghĩa là, người bị truất quyền thừa kế là người không được hưởng di sản thừa kế theo di chúc.
Lưu ý:
Mặc dù khi bị truất quyền thừa kế thì không được hưởng di sản thừa kế theo di chúc nhưng để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho một số đối tượng yếu thế, quy định tại Điều 644 Bộ Luật Dân sự 2015 vẫn để cho những người được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, bao gồm: Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên mà không có khả năng lao động.
Những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba của một suất nếu di sản được chia theo pháp luật.
Thuận Thương
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Các trường hợp thừa kế đặc biệt”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.