Uỷ thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

14/08/2024
Uỷ thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự

1. Khái niệm, ý nghĩa của việc uỷ thác thu thập chứng cứ

Uỷ thác thu thập chứng cứ là một trong những biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015).

Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp (Điều 93 BLTTDS 2015).

Uỷ thác thu thập chứng cứ là việc Toà án có yêu cầu cho một Toà án khác hoặc cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ như xem xét, tẩm định tại chỗ, lấy lời khai, định giá tài sản,… nhằm giải quyết vụ việc dân sự.

Uỷ thác thu thập chứng cứ thường được khi các đối tượng, nguồn chứng cứ nằm ngoài phạm vi lãnh thổ hoặc ở quá xa Toà án giải quyết vụ việc dân sự, do vậy việc thu thập chứng cứ sẽ được uỷ thác cho các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương, gần với đối tượng cần thu thập để có thể dễ dàng, kịp thời, tiết kiệm được thời gian, chi phí.

2. Quy định pháp luật về uỷ thác thu thập chứng cứ

Uỷ thác, thu thập chứng cứ được quy định tại Điều 105 BLTTDS 2015 như sau:

1. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, thẩm định tại chỗ, tiến hành định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự.

2. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ.

3. Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác.

4. Trường hợp việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này.

5. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này hoặc đã thực hiện việc ủy thác nhưng không nhận được kết quả trả lời thì Tòa án giải quyết vụ án trên cơ sở chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ việc dân sự.”

Có thể thấy, uỷ thác thu thập chứng cứ là một trong những biện pháp quan trọng để xác minh, làm rõ thêm các tình tiết trong vụ việc dân sự nhằm đánh giá được tổng quan, toàn diện vụ án, việc dân sự cần giải quyết.

Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp bắt buộc và kết quả của việc uỷ thác không phải là yếu tố then chốt để giải quyết vụ việc dân sự. Bởi luật quy định rõ trong trường hợp uỷ thác không thành (Toà án, cơ quan nhận uỷ thác không thực hiện được uỷ thác hoặc thực hiện được nhưng không có kết quả) thì Toà án có thể căn cứ trên những chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ sẵn có để giải quyết.

3. Trình tự, thủ tục ủy thác thu thập chứng cứ

(1) Toà án ra quyết định uỷ thác thu thập chứng cứ: khi xét thấy cần thiết, Toà án ra quyết định uỷ thác thu thập chứng cứ cho Toà án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu thực hiện việc thu thập chứng cứ theo Mẫu số 13-DS được ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP. Trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, quan hệ tranh chấp và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập chứng cứ.

(2) Toà án, cơ quan nhận uỷ thác thực hiện uỷ thác: Trong thời gian 01 tháng kể từ ngày nhận được uỷ thác, Toà án, cơ quan nhận uỷ thác có trách nhiệm thực hiện công việc được uỷ thác và phải thông báo cho Toà án ra quyết định uỷ thác bằng văn bản về kết quả uỷ thác, việc uỷ thác có thực hiện được hay không được.

(3) Sau khi nhận được thông báo, kết quả từ Toà án, cơ quan nhận uỷ thác, Toà án ra quyết định uỷ thác tiếp tục thực hiện các giai đoạn tiếp theo của quá trình giải quyết vụ việc dân sự.

4. Một số quy định khác

Việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài ngoài BLLTDS thì tuỳ theo trường hợp còn phải chịu sự điều chỉnh của Luật Tương trợ tư pháp, các hiệp định, điều ước quốc tế khác mà Việt Nam là thành viên có quy định về việc uỷ thác tư pháp.

Ủy thác tư pháp về dân sự là yêu cầu bằng văn bản của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Ủy thác tư pháp chính là một hình thức để thực hiện tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

Theo quy định tại Điều 13 của Luật Tương trợ tư pháp thì Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp trong các trường hợp sau đây: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho người đang ở nước được yêu cầu;

– Triệu tập người làm chứng, người giám định ở nước được yêu cầu;

– Thu thập, cung cấp chứng cứ ở nước được yêu cầu để giải quyết vụ việc dân sự tại Việt Nam;

– Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Hoài Anh

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Uỷ thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

 

Tư vấn pháp luật