Trong các giao dịch dân sự, việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Pháp luật dân sự Việt Nam đã quy định nhiều biện pháp bảo đảm khác nhau. “Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản” (Điều 292 BLDS 2015). Trong đó, cầm cố tài sản là một biện pháp bảo đảm được sử dụng khá phổ biến trong thực tiễn giao dịch dân sự. Việc nghiên cứu các quy định pháp luật về cầm cố tài sản giúp làm rõ bản chất pháp lý cũng như quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ bảo đảm này, bây giờ thì mời quý độc giả cùng tìm hiểu “Cầm cố tài sản trong Bộ Luật Dân sự”.
1.Cầm cố tài sản là gì?
Căn cứ theo quy định tại Điều 309 BLDS 2015: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.”.
Cầm cố là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Cầm cố được dựa trên sự thỏa thuận của các bên, theo đó thì bên cầm cố sẽ giao tài sản thuộc sở hữu của mình cùng các giấy tờ có liên quan cho bên nhận cầm cố giữ hoặc giao cho người thứ ba để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố hoặc người thứ ba có quyền chiếm hữu tài sản cho đến khi nghĩa vụ được bảo đảm hoàn thành hoặc có quyền xử lý tài sản theo thỏa thuận hoặc theo luật định khi bên cầm cố không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Để dễ hình dung hơn, có thể xem ví dụ sau đây:
“Ông A muốn có 100 triệu đồng để đầu tư kinh doanh mặt hàng đồ thủ công do xu hướng giới trẻ đang chuộng, nhưng còn thiếu 50 triệu đồng nên ông A đã cầm cố chiếc xe tay ga của mình cho ông H để lấy 50 triệu đồng để đi đầu tư, sau đó, ông A đã giao xe cho ông H giữ trong 06 tháng với điều kiện là ông H sẽ đưa 50 triệu đồng cho ông A để đi đầu tư”.
Từ ví dụ trên có thể thấy được việc giao xe cho ông H giữ nhằm mục đích là sẽ bảo đảm cho việc ông A sẽ trả lại đủ số tiền là 50 triệu đồng cho ông H theo như thời hạn đã thỏa thuận là 06 tháng kể từ ngày ông A cầm cố xe cho ông H.

2.Tài sản dùng để cầm cố
Theo quy định của pháp luật dân sự, tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Cụ thể, Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Khoản 2 Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm tài sản chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu sau thời điểm xác lập giao dịch.” Bên cạnh đó, Điều 8 Nghị định 21/2021/NĐ-CP cũng quy định tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai đều có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó có biện pháp cầm cố, trừ trường hợp pháp luật cấm hoặc hạn chế. Tuy nhiên, theo khoản 4 Điều 10 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, quyền sử dụng đất hình thành trong tương lai không được dùng làm tài sản bảo đảm trong trường hợp cầm cố. Trong thực tiễn, tài sản cầm cố chủ yếu là động sản do đặc điểm của cầm cố là phải giao tài sản cho bên nhận cầm cố giữ. Việc xác định rõ quyền sở hữu của bên cầm cố đối với tài sản là điều kiện quan trọng, bởi chỉ khi tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên cầm cố thì bên nhận cầm cố mới có thể xử lý tài sản đó khi nghĩa vụ không được thực hiện.
Một loại tài sản có thể trở thành đối tượng của cầm cố là tiền. Theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015, “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”, do đó tiền cũng được xem là một loại tài sản. Tiền được đề cập trong trường hợp này thường là tiền mặt hoặc các loại tiền có thể cầm nắm, tiếp xúc trực tiếp như tiền giấy hoặc tiền xu, có thể được phân thành ngoại tệ và Việt Nam đồng. Về mặt lý thuyết, tiền hoàn toàn có thể trở thành đối tượng của biện pháp cầm cố. Tuy nhiên, trên thực tế rất hiếm khi các giao dịch cầm cố có đối tượng là tiền mặt. Dù vậy, vẫn tồn tại những giao dịch liên quan đến việc mua bán các tờ tiền có số seri đẹp, những tờ tiền này thường được người sưu tầm định giá cao hơn so với giá trị mà chúng tượng trưng. Trong trường hợp này, tiền được xem là vật đặc định vì mỗi tờ tiền đều có số seri riêng biệt. Nếu một người cầm cố một tờ tiền có số seri đẹp thì trong văn bản cầm cố cần ghi rõ mệnh giá của tờ tiền cũng như mô tả cụ thể các đặc điểm nhận dạng để xác định chính xác tài sản cầm cố. Việc cầm cố trong trường hợp này vẫn có thể được thực hiện vì pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của các bên miễn là không trái với điều cấm của pháp luật và không vi phạm đạo đức xã hội.
Ngoài ra, một loại tài sản thường được đặt ra trong thực tiễn là quyền sử dụng đất. Trong quan hệ dân sự, việc cầm cố đất hoặc cầm cố quyền sử dụng đất đã xuất hiện từ lâu với nhiều cách gọi khác nhau như cầm cố đất, cố đất, thục đất hoặc cầm cố quyền sử dụng đất. Theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”, đồng thời Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.” Như vậy, quyền sử dụng đất là một loại tài sản.
Bên cạnh đó, Điều 107 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định bất động sản bao gồm: “đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất; tài sản khác gắn liền với đất, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật.” Đồng thời, Điều 310 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.” Quy định này cho thấy pháp luật dân sự đã ghi nhận cầm cố bất động sản.
Luật Đất đai năm 2024 không có quy định cấm việc cầm cố quyền sử dụng đất, trong khi người sử dụng đất được thực hiện các quyền như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp và góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, theo tinh thần của luật Kinh doanh bất động sản cũng cho rằng Quyền sử dụng đất cũng là một loại bất động sản. Vì vậy, từ góc độ lý luận, quan điểm cho rằng việc cầm cố quyền sử dụng đất (Cầm cố quyền tài sản) vẫn có thể được chấp nhận nếu mục đích cầm cố không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Tuy nhiên, cũng tồn tại quan điểm ngược lại với cách hiểu trên khi xem xét bản chất của biện pháp cầm cố và chế độ pháp lý của đất đai. Theo Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cầm cố tài sản là việc một bên (bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.” Như vậy, đặc trưng của cầm cố là bên cầm cố phải giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên nhận cầm cố giữ. Trong khi đó, đất đai ở Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, cá nhân và tổ chức chỉ có quyền sử dụng đất chứ không có quyền sở hữu đối với đất đai. Vì vậy, có thể hiểu rằng bất động sản được cầm cố bao gồm: nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất; tài sản khác gắn liền với đất, nhà, công trình xây dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Trong thực tiễn các giao dịch thường được gọi là “cầm cố đất”, bên cầm cố thường chỉ giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên nhận cầm cố giữ. Tuy nhiên, việc giao Giấy chứng nhận thực chất chỉ là giao giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất chứ không phải giao đất hay quyền sử dụng đất, nói đúng hơn là họ đang cầm giấy cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là một loại tài sản, nó chỉ là một quyết định hành chính, một chứng thư pháp lý do nhà nước cấp. Do đó việc cầm cố một vật không phải là tài sản không có giá trị pháp lý.
Theo đặc thù pháp lý của quyền sử dụng đất, bên cầm cố không thể giao “vật” cho bên nhận cầm cố như đối với vật hữu hình, dẫn đến khó xác định cách thức thực hiện nghĩa vụ giao tài sản trong quan hệ cầm cố. Mặt khác, Luật Đất đai năm 2024 khi quy định về các quyền của người sử dụng chỉ cho phép thực hiện các quyền như chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thừa kế, thế chấp và góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Thêm câu hỏi đặt ra là, nếu quyền tài sản được cầm cố thì khi xảy ra phát sinh tranh chấp giữa các bên đó là bên cầm cố không trả tiền đúng hạn thì bên nhận cầm cố xử lý Quyền sử dụng đất này như thế nào? Họ có thể tặng cho hay chuyển nhượng được không? Như vậy, có thể kết luận Quyền sử dụng đất không phải là quyền tài sản được cầm cố.
Quay lại câu chuyện cầm đất, cố đất. Sự hiểu nhầm về ý nghĩa và hành vi xuất phát từ phong tục tập quán xa xưa đó là đất đai thuộc sở hữu tư nhân khác với quy định hiện hành là đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Về tính chất pháp lý đã có sự khác biệt nhưng người dân vẫn chưa hiểu và vẫn quen với lề lối cũ. Nếu đất đai thuộc sở hữu tư nhân thì đó là một loại tài sản mà cá nhân/tổ chức đó có quyền định đoạt tài sản đó. Câu chuyện sẽ đơn giản hơn rất nhiều.
Một ví dụ thực tiễn: ông A giao cả nhà và đất cho ông B quản lý kèm theo Chứng thư sử dụng đất để cầm một khoản tiền. Câu hỏi đặt ra là giao dịch dân sự này có được công nhận hay không? Việc công nhận hay không công nhận giao dịch này liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi cho các bên nếu xảy ra tranh chấp. Đây là câu chuyện xảy ra rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày. Xét về những vấn đề phân tích ở trên đây thì đất không phải do ông A sở hữu nên việc cầm cố đất là vô hiệu. Đối với nhà thì được xem xét là tài sản bất động sản thuộc sở hữu của ông A nên có thể cầm cố được. Chứng thư sử dụng đất không phải lại tài sản nên ko được xem là cầm cố tài sản nhưng bàn giao kèm theo như một biện pháp bảo đảm để bên A thực hiện nghĩa vụ nên được ghi nhận. Nếu là Toà án giải quyết tranh chấp thì giao dịch dân sự nêu trên bị vô hiệu hay bị vô hiệu một phần?
Quyền sử dụng đất trên thực tế thường được sử dụng để thế chấp chứ không phải cầm cố; trong quan hệ thế chấp, người sử dụng đất vẫn tiếp tục quản lý và sử dụng đất, còn quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm nghĩa vụ và phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật. Quan điểm cá nhân của người viết cho rằng, Quyền sử dụng đất không được cầm cố là phụ hợp với pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, rất cần các nhà soạn thảo luật làm rõ vấn đề này trong các văn bản vi phạm pháp luật để tránh một trường hợp nhưng có nhiều cách hiểu, dẫn đến việc áp dụng luật trong thực tiễn không thống nhất. Từ đó ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi cho các bên nếu có phát sinh tranh chấp.

3.Hiệu lực của cầm cố tài sản
BLDS 2015 quy định về hiệu lực của cầm cố tài sản tại Điều 310 như sau:
“1. Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
- Cầm cố tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố.
Trường hợp bất động sản là đối tượng của cầm cố theo quy định của luật thì việc cầm cố bất động sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.”
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cầm cố được thực hiện theo các nguyên tắc và quy định chung về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo như điều 400 và 401 BLDS 2015.
Còn với thời điểm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì sẽ được chia theo từng loại tài sản cầm cố. Bất động sản là đối tượng của cầm cố, theo quy định của luật thì hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký, nếu tài sản cầm cố không phải là bất động sản thì việc cầm cố tài sản có hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố.
4.Nghĩa vụ và quyền của bên cầm cố
Đầu tiên, nghĩa vụ của bên cầm cố, theo quy định tại Điều 311 BLDS 2015:
”1. Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thỏa thuận.
- Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền hủy hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố.”
- Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Có thể hiểu như sau, sau khi đã thỏa thuận xác lập biện pháp cầm cố, thì bên cầm cố sẽ phải chuyển giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố giữ, bên cầm cố phải giao đúng đồ vật, nếu tài sản cầm cố bao gồm nhiều vật thì phải giao đầy đủ và đúng theo thỏa thuận khi xác lập giao dịch về cầm cố.
Đối với trường hợp người thứ ba có quyền đối với tài sản cầm cố thì bên cầm cố cần phải báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với lại tài sản cầm cố, để cho bên nhận cầm cố đưa ra quyết định rằng có xác lập giao dịch cầm cố hay không. Trong trường hợp bên cầm cố không thông báo thì bên nhận cầm cố sẽ có quyền hủy bỏ giao dịch cầm cố và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc ngược lại là bên nhận cầm cố sẽ duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, điều này cũng đồng nghĩa với việc bên nhận cầm cố sẽ phải chịu bất lợi nếu có tranh chấp xảy ra với tài sản cầm cố. Còn riêng với những tài sản cần phải áp dụng các biện pháp bảo quản thì bên cầm cố cần phải thanh toán cho bên nhận cầm cố những chi phí hợp lý để bảo quản tài sản đó, nếu như không có thỏa thuận khác trước đó.
Thứ hai, đối với quyền của bên cầm cố được quy định tại điều 312 BLDS 2015:
“1. Yêu cầu bên nhận cầm cố chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 314 của Bộ luật này nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị.
- Yêu cầu bên nhận cầm cố trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
- Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.
- Được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản cầm cố nếu được bên nhận cầm cố đồng ý hoặc theo quy định của luật.”
Trường hợp các bên có thỏa thuận thì bên nhận cầm cố có thể cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu mà người được cho thuê, cho mượn mà làm cho tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị thì bên cầm cố sẽ có quyền yêu cầu bên nhận cầm cố phải chấm dứt việc sử dụng tài sản cầm cố, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mà tài sản bị thiệt hại thì bên nhận cầm cố sẽ phải bồi thường.
5.Nghĩa vụ và quyền của bên nhận cầm cố
Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố được quy định tại Điều 313 BLDS 2015:
“1. Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất, thất lạc hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.
- Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác.
- Không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Trả lại tài sản cầm cố và giấy tờ liên quan, nếu có khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.”
Quy định trên đồng nghĩa với việc bên nhận cầm cố có nghĩa vụ phải bảo quản và giữ gìn tài sản của bên cầm cố như tài sản của chính mình. Bên cạnh đó, bên nhận cầm cố cũng không được các quyền bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ khác, không được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, trừ trường hợp đã có thỏa thuận từ trước. Trường hợp người nhận cầm cố mà bán , đổi, sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khắc mà tài sản bị xử lý để thanh toán nghĩa vụ thì người nhận cầm cố phải bồi thường thiệt hại.
Mặc dù tài sản cầm cố được chuyển giao cho bên nhận cầm cố nắm giữ nhưng tài sản cầm cố vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố, do đó, chỉ có bên cầm cố mới có quyền định đoạt tài sản cầm cố. Mục đích chính của việc nắm giữ tài sản cầm cố của bên nhận cầm cố là để đảm bảo được rằng bên có nghĩa vụ sẽ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình, do đó, bên nhận cầm cố không được khai thác và hưởng lợi từ việc khai thác tài sản cầm cố nếu như không có sự đồng ý của bên cầm cố.
Đối với quyền của bên nhận cầm cố, quy định tại Điều 314 BLDS 2015 quy định rằng:
“1. Yêu cầu người đang chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó.
- Xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
- Được cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thỏa thuận.
- Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.”
Ta có thể hiểu quy định trên theo cách như sau, tài sản cầm cố do bên nhận cầm cố giữ, tuy nhiên có một số trường hợp có thể tài sản bị người khác chiếm hữu, sử dụng trái phép như trộm cắp, lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản, những trường hợp này thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu người chiếm hữu bất hợp pháp phải giao lại tài sản cầm cố cho mình để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của bên nhận cầm cố là bảo quản và gìn giữ tài sản cầm cố. Trường hợp bên cầm cố vi phạm nghĩa vụ hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên nhận cầm cố sẽ xử lý tài sản cầm cố để thanh toán nghĩa vụ.
Nếu như có sự đồng ý của bên cầm cố cho bên nhận cầm cố cho thuê, mượn tài sản cầm cố thì bên nhận cầm cố được phép cho thuê, mượn tài sản cầm cố và phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu tài sản bị hư hỏng, mất mát. Đối với những tài sản cần phải bỏ chi phí để bảo quản thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu bên cầm cố thanh toán chi phí bảo quản đó.

6.Chấm dứt cầm cố tài sản
Điều 315 BLDS 2015 quy định về chấm dứt cầm cố tài sản:
“Cầm cố tài sản chấm dứt trong trường hợp sau đây:
- Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt.
- Việc cầm cố tài sản được hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.
- Tài sản cầm cố đã được xử lý.
- Theo thỏa thuận của các bên.”
Cũng như hầu hết các biện pháp bảo đảm khác thì cầm cố để bảo đảm cho nghĩa vụ đang được thực hiện, nếu nghĩa vụ này được thực hiện xong thì cầm cố không có giá trị nữa cho nên cũng chấm dứt. Trong thời gian cầm cố thì các bên cũng có thể hủy bỏ cầm cố theo những căn cứ đã thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố như việc bên nhận cầm cố gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cầm cố hoặc theo các căn cứ khác. Trong trường hợp biện pháp cầm cố được thay thế bằng biện pháp khác (bảo lãnh, thế chấp,…) thì cầm cố chấm dứt. Trường hợp bên cầm cố không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thì bên nhận cầm cố có quyền xử lý tài sản cầm cố và cầm cố chấm dứt. Ngoài ra, các bên cũng có thể thỏa thuận chấm dứt việc cầm cố, trường hợp này phía bên nhận bảo đảm sẽ có thể chịu rủi ro, thế nên sẽ phụ thuộc vào quyết định của bên nhận cầm cố, khi chấm dứt cầm cố thì nghĩa vụ đang thực hiện không có bảo đảm.
7.Trả lại tài sản cầm cố
Theo điều 316 BLDS 2015: “Khi việc cầm cố tài sản chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 315 của Bộ luật này hoặc theo thỏa thuận của các bên thì tài sản cầm cố, giấy tờ liên quan đến tài sản cầm cố được trả lại cho bên cầm cố. Hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản cầm cố cũng được trả lại cho bên cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Trong trường hợp bên cầm cố đã thực hiện xong nghĩa vụ hoặc chấm dứt thì nghĩa vụ được bảo đảm cũng sẽ chấm dứt, bên nhận cầm cố sẽ phải hoàn trả lại tài sản cầm cố với tình trạng giống với ban đầu. Khi chấm dứt cầm cố thì bên nhận cầm cố sẽ phải hoàn trả lại tài sản cầm cố, giấy tờ có liên quan, hoa lợi, lợi tức thu được cho bên cầm cố, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
8.Xử lý tài sản cầm cố
Căn cứ theo điều 299 BLDS 2015 quy định về trường hợp xử lý tài sản bảo đảm:
“1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
- Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
- Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.”
Đồng thời, Điều 303 BLDS 2015 quy định về các phương thức xử lý tài sản cầm cố như sau:
“1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:
- a) Bán đấu giá tài sản;
- b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;
- c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
- d) Phương thức khác.
- Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.”
Một vấn đề khác cần lưu ý là với quyền ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm, theo Điều 308 BLDS 2015 thì Trường hợp tài sản cầm cố được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì số tiền thu được từ việc xử lý tài sản được thanh toán theo thứ tự ưu tiên giữa các bên nhận bảo đảm.
– Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng.
– Trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước.
– Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.
Thứ tự ưu tiên thanh toán trên có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Khi thanh toán, số tiền thu được từ việc xử lý tài sản cầm cấp cao hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền còn lại sẽ được trả cho bên cầm cố. Nếu giá trị tài sản cầm cố sau khi xử lý thấp hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên cầm cố thực hiện nghĩa vụ chưa thanh toán.
9.Một số lưu ý pháp lý về cầm cố tài sản
Khi thiết lập và thực hiện giao dịch cầm cố tài sản, các bên cần đặc biệt lưu ý đến điều kiện pháp lý của tài sản và chủ thể tham gia giao dịch. Theo Điều 309 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản được dùng để cầm cố phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên cầm cố. Nếu tài sản không thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố hoặc thuộc sở hữu chung nhưng chưa có sự đồng ý của các đồng chủ sở hữu thì giao dịch cầm cố có thể bị vô hiệu theo quy định của pháp luật dân sự.
Bên cạnh đó, các bên cần chú ý đến hiệu lực của giao dịch cầm cố. Theo Điều 310 Bộ luật Dân sự 2015: “Hợp đồng cầm cố tài sản có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Ngoài ra, việc chuyển giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố cũng là yếu tố quan trọng làm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Do đó, việc giao tài sản cần được thực hiện rõ ràng và có thể chứng minh được trong trường hợp phát sinh tranh chấp.
Trong quá trình thực hiện giao dịch cầm cố, các bên cũng cần lưu ý đến nghĩa vụ bảo quản tài sản cầm cố của bên nhận cầm cố. Bên nhận cầm cố phải bảo quản tài sản một cách cẩn thận và không được tự ý sử dụng tài sản nếu việc sử dụng đó làm giảm giá trị của tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác giữa các bên.
Ngoài ra, các bên nên xác định rõ trong hợp đồng cầm cố về nghĩa vụ được bảo đảm, giá trị của tài sản cầm cố cũng như phương thức xử lý tài sản trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện. Việc quy định rõ ràng các nội dung này sẽ giúp hạn chế tranh chấp và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự.
Cuối cùng, khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố đã được thực hiện đầy đủ hoặc chấm dứt theo quy định của pháp luật, bên nhận cầm cố có nghĩa vụ trả lại tài sản cầm cố cho bên cầm cố. Việc hoàn trả tài sản là hệ quả pháp lý của việc chấm dứt biện pháp bảo đảm và đồng thời bảo đảm quyền sở hữu của bên cầm cố đối với tài sản của mình theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam.
Đăng Khoa
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Cầm cố tài sản”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.