Khi các bên bước chân tham gia vào quan hệ hợp đồng, họ bị ràng buộc bởi quyền của người này và nghĩa vụ đối ứng với người kia. Theo đó, để hợp đồng vận hành một cách tốt đẹp, các bên tham gia phải thực hiện hợp đồng một cách trọn vẹn và nghiêm túc nhất, tránh việc vi phạm hợp đồng. Vậy, câu hỏi đặt ra liệu có điều gì khiến họ phải tuân thủ hợp đồng một cách tuyệt đối, hay đơn giản chỉ là các bên muốn tuân theo hợp đồng vì cảm thấy có trách nhiệm phải thực hiện nó? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời bạn đọc tìm hiểu về nội dung: “Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng”.
1. Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là gì
Để đi sâu vào vấn đề phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, trước hết cần nắm rõ thế nào là phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Xét về bản chất, cả hai đều là chế tài mà các bên phải gánh chịu nếu vi phạm hợp đồng, các bên sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ hoặc tuỳ vào nội dung của hợp đồng để đàm phán việc sử dụng các chế tài trên nhằm đảo bảo các bên tham gia hợp đồng đều tuân thủ một cách triệt để.
1.1. Phạt vi phạm
Đầu tiên, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015, phạt vi phạt được hiểu là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm. Dựa theo định nghĩa trên, có thể hiểu rằng phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên, do đó để có thể áp dụng chế tài này, các bên phải quy định rõ trong hợp đồng.
Vì vậy cần lưu ý rằng trong quá trình các bên đàm phán ký kết hợp đồng nếu muốn áp dụng phạt vi phạm thì phải ghi rõ trong hợp đồng, tránh trường hợp chỉ thoả thuận qua lời nói vì khi đó chế tài phạt vi phạm sẽ không được kích hoạt.
1.2. Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
Nếu phạt vi phạm là sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng thì chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng sẽ hoàn toàn ngược lại. Dựa theo Điều 360 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Đối với quan hệ hợp đồng, chỉ khi không thuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm dân sự theo Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, nếu ít nhất một trong các bên vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại thực tế xảy ra thì bên vi phạm đó sẽ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng.
Cụ thể hơn, để chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng được kích hoạt thì cần phải đảm bảo các yếu tố bao gồm:
(i) Có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng;
(ii) Có thiệt hại thực tế
(iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng và thiệt hại thực tế đã xảy ra.
Ngoài ra, tại các luật chuyên ngành như Luật Thương mại, Luật Xây dựng đều có những quy định cụ thể đối với từng trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Do đó, các bên cần lưu ý rằng không phải tất cả trường hợp một bên vi phạm hợp đồng đều phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà cần phải xét từng trường hợp cụ thể đối với loại hợp đồng và xác định luật chuyên ngành điều chỉnh để áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại phù hợp với pháp luật.
2. Mức phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng đều là chế tài áp dụng đối với bên vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên do tính chất và điều kiện phát sinh của hai chế tài là khác nhau nên mức phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cũng sẽ khác nhau. Trên thực tế không ít các bên khi đàm phán hợp đồng muốn ràng buộc nhau bởi chế tài để hạn chế việc vi phạm hợp đồng, tuy nhiên việc không hiểu rõ mức phạt và cách thức bồi thường như thế nào cũng đã gây khó khăn cho các bên phần nào. Vậy định mức của hai chế tài này là như thế nào?
2.1. Mức phạt vi phạm

Mức phạt vi phạm được điều chỉnh chung bởi Bộ luật Dân sự, cụ thể tại khoản 2 Điều 418 Bộ luật quy định rằng mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Chiếu theo quy định trên, các bên có thể tự do quy định mức phạt vi phạm mà mình thấy phù hợp với hợp đồng.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khoản 2 Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 vẫn còn dự trù thêm trường hợp “luật liên quan có quy định khác”. Vì vậy, các bên khi quyết định lựa chọn chế tài phạt vi phạm trong hợp đồng thì cần quan tâm liệu rằng luật khác có quy định mức phạt vi phạm khác với quy định của Bộ luật Dân sự hay không.
Đối với các hợp đồng chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005 căn cứ theo Điều 301 luật này, các bên chỉ được phép thoả thuận mức phạt vi phạm không quá 8% phần giá trị nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Ngoài ra, Điều 301 của luật còn đặt ra trường hợp ngoại lệ đối với hợp đồng dịch vụ giám định khi khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại 2005 cho phép các bên thoả thuận mức phạt nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định.
Đối với các hợp đồng chịu sự điều chỉnh của Luật Xây dựng 2014, mức phạt vi phạm trong hợp đồng xây dựng do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm.
Từ các quy định trên cho thấy rằng các bên trong hợp đồng khi lựa chọn mức phạt vi phạm ngoài việc quan tâm đến giá trị của hợp đồng thì còn cần phải chú ý đến luật chuyên ngành điều chỉnh hợp đồng để đưa ra mức phạt phù hợp với quy định của pháp luật, tránh những rủi ro không đáng có.
2.2. Mức bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
Để xác định được mức bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, trước hết cần phải xác định được thiệt hại thức tế đã xảy ra để làm cơ sở để yêu cầu bên vi phạm thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Căn cứ theo khoản 1 Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật Dân sự 2015.
Theo đó, bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là chế tài mà các bên không cần thoả thuận mà khi có một bên vi phạm hợp đồng, có thiệt hại và thiệt hại này xuất phát trực tiếp từ hành vi vi phạm hợp đồng thì bên bị vi phạm sẽ có quyền yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho mình. Vì vậy, để biết được mức bồi thường thiệt hại mà mình sẽ được nhận, bên bị vi phạm cần phải xác định thiệt hại cụ thể làm cơ sở để yêu cầu bên vi phạm bồi thường. Căn cứ theo Điều 361 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ được xác định như sau:
“1. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần;
2. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
3. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.”.
Từ quy định trên có thể thấy rằng để có thể áp dụng được chế tài bồi thường thiệt hại thì phải có thiệt hại và thiệt hại phải được xác định theo Điều 361 Bộ luật Dân sự 2015. Điều này dẫn đến sự khác nhau về cơ chế hoạt động của bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm. Bên vi phạm không chỉ phải bồi thường một khoản tiền mà còn phải bồi thường các tổn thất vật chất thực tế đã xảy ra, tổn thất tinh thần và kể cả chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại.
Sự khác nhau về cơ chế áp dụng cũng dẫn đến sự khác nhau về định mức bồi thường mà bên vi phạm phải chịu trách nhiệm chi trả cho bên bị vi phạm. Tài sản bồi thường không bị giới hạn chỉ mỗi tiền mà còn bao gồm các vật chất là tài sản thực tế đã bị tổn thất bởi hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm.
Ví dụ, anh A có ký hợp đồng mua trái cây với chị G, cả hai thống nhất ngày 22/3/2026 chị G sẽ giao trái cây cho anh A. Do tin tưởng chị G nên anh A ký hợp đồng bán số trái cây đã mua của chị G cho anh T. Tuy nhiên, do chị G không chú ý nên công tác bảo quản không được đảm bảo, khiến trái cây hư hỏng toàn bộ. Đến hạn giao hàng thì chị G không có hàng để giao cho anh A, do không có hàng nên anh A không thể giao hàng cho anh T theo hợp đồng giữa anh A và anh T. Trong trường hợp này, anh A có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với toàn bộ số trái cây theo hợp đồng mua bán trái cây giữa anh A và chị G do chị G vi phạm nghĩa vụ giao hàng vì không có trái cây để giao, đồng thời anh A cũng có thể yêu cầu chị G bồi thường khoản thu nhập lẽ ra anh được hưởng nếu chị G có hàng giao cho anh A để anh A thực hiện hợp đồng với anh T.
Ngoài ra, căn cứ theo khoản 2 Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015, người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Ngoài ra, người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.
3. Các trường hợp không phải chịu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
Xét về bản chất, phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại đều là trách nhiệm dân sự do chủ thể vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện khi vi phạm. Do đó, khi một bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ nhưng nếu thuộc các trường hợp không phải chịu trách nhiệm dân sự thì bên vi phạm nghĩa vụ không cần chịu sự ràng buộc của một hoặc cả hai chế tài trên.
Căn cứ theo Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, khi thuộc các trường hợp sau thì bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm dân sự:
Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
Theo quy định tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Theo quy định trên, nếu bên vi phạm nghĩa vụ mà nguyên nhân đến từ sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng bên vi phạm phải chứng mình mình thuộc sự kiện bất khả kháng, ngoài ra để được xem là sự kiến bất khả kháng thì cần phải đáp ứng đủ các yếu tố như:
(i) Xảy ra một cách khách quan;
(ii) Không thể lường trước và không thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Ví dụ, anh B có ký hợp đồng mua bán trái cây với anh C, thời hạn giao hàng là 12/3/2025. Tuy nhiên, vào tối ngày 11/3/2025, khu vực của anh B xuất hiện cơn bão lớn, mặc dù đã huy động lực lượng, tu sửa và gia cố kho hàng của mình nhưng do bão quá lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ người dân và tài sản tại khu vực của anh B. Hậu quả làm toàn bộ hàng hoá của anh B hư hỏng nặng. Trong trường hợp này, cơn bão là hiện tượng khách quan, sức tàn phá nặng nề của bão là không thể lường trước và mặc dù anh B đã tìm mọi cách khắc phục nhưng thiệt hại vẫn xảy ra. Do đó, anh B tuy vi phạm nghĩa vụ giao hàng do không còn hàng giao cho anh C nhưng thuộc trường hợp bất khả kháng nên anh B không phải chịu chế tài bồi thường thiệt hại.
Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền
Đối với trường hợp vi phạm nghĩa vụ mà nguyên nhân xuất phát hoàn toàn do lỗi của bên có quyền, dẫn đến việc bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ của mình thì bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự. Cần lưu ý rằng đối với trường hợp này, bên có nghĩa vụ phải chứng minh được lỗi của bên có quyền và nguyên nhân mà bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ xuất phát từ lỗi đó của bên có quyền.
Đối với yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự, căn cứ theo Điều 364 Bộ luật Dân sự 2015, lỗi được phân thành hai loại bao gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý, cụ thể:
– Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
– Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

4. Ý nghĩa của phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là hai chế tài quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, hai chế tài này còn mang vai trò như một điều khoản dự trù, nhằm nâng cao trách nhiệm của các bên khi cả hai đều ảnh hưởng đến tài sản của các chủ thể tham gia hợp đồng. Xét về thực tiễn, phạt vi phạm mang tính chất răn đe, dựa trên sự thoả thuận của các bên mà mức phạt được xác lập theo ý chí cả hai. Trong khi đó, bồi thường thiệt hại nhằm khắc phục lại hậu quả, bù đắp lại thiệt hại thực tế đã xảy ra do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên vi phạm đối với bên bị vi phạm.
Trên thực tế, hầu hết các hợp đồng mang giá trị lớn hoặc hợp đồng có tính chất quan trọng đều được các bên thoả thuận phạt vi phạm. Bởi lẽ khi xác lập hợp đồng với nhau, ý chí của các bên đều mong muốn hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm túc, vì khi đó thì mục đích của hợp đồng mới được hoàn thành và các bên đạt được lợi ích. Thực chất nếu các bên không thoả thuận phạt vi phạm thì chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng vẫn sẽ bảo vệ bên bị vi phạm, tuy nhiên việc thoả thuận cả chế tài phạt vi phạm sẽ đồng thời nâng cao tính chất răn đe và trách nhiệm thực hiện hợp đồng của các bên.
Gia Bảo
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong hợp đồng”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline: 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website: emeraldlawfirm.vn hoặc email: emerald.VAA@gmail.com để được đội ngũ luật sư của Luật Emerald hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.