Hoà giải trước và sau khi thụ lý vụ án tại Toà án – Có gì khác nhau?

22/07/2024
Hoà giải trước và sau khi thụ lý vụ án tại Toà án – Có gì khác nhau?

Thực tiễn khi giải quyết tranh chấp dân sự, khi thương lượng không thành các bên thường tìm đến một phương thức giải quyết khác có một bên trung lập đứng ra hỗ trợ: kiện tụng. Tuy nhiên, đối với các thủ tục tố tụng, thời gian có thể kéo dài rất lâu, kèm theo là chi phí và công sức bỏ ra. Không những thế, để bản án chính thức có hiệu lực pháp luật để thi hành án cũng là một quá trình dài. Với lẽ đó, hoà giải tại Toà án trước khi thụ lý vụ án trở thành một phương thức giải quyết tranh chấp được tin cậy vì có thể đáp ứng được đại đa số nhu cầu khi giải quyết tranh chấp và khắc phục được những hạn chế của thủ tục tố tụng dân sự.

Vậy, hoà giải là gì? Có những loại hình hoà giải nào, trình tự, thủ tục làm sao? Tại sao nên lựa chọn hoà giải trước khi Toà án thụ lý vụ án?

1. Hoà giải là gì?

Hoà giải là một phương thức giải quyết khi xảy ra tranh chấp. Khác với thương lượng chỉ có các bên tranh chấp tham gia, trong hoà giải, các bên sẽ tiến hành giải quyết dưới sự hỗ trợ của một bên thứ ba trung lập.

Mục đích của hoà giải nhằm hàn gắn những mâu thuẫn giữa hai hoặc nhiều bên đương sự có tranh chấp, tạo điều kiện để họ có thể tự thương lượng, thoả thuận với nhau về những vấn đề tranh chấp một cách thiện chí nhất.

Trong pháp luật Việt Nam có 03 loại hình hoà giải:

– Hoà giải ngoài tố tụng: có thể kể đến như hoà giải trong tranh chấp lao động, hoà giải cơ sở, hoà giải thương mại, hoà giải tranh chấp đất đai,…

– Hoà giải trước khi toà án thụ lý vụ án, hay hoà giải theo Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án;

– Hoà giải sau khi toà án thụ lý vụ án, hay hoà giải trong tố tụng dân sự (được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự).

Tại bài viết này, Luật Emerald sẽ đi sâu vào thủ tục hoà giải của hai loại hình hoà giải là hoà giải trước và sau khi Toà án thụ lý vụ án cũng như phân tích về điểm khác biệt của hai loại hình này.

2. Thủ tục hoà giải trước khi toà án thụ lý vụ án

2.1. Giai đoạn trước hoà giải, đối thoại

(1) Các bên lựa chọn hoà giải trước khi thụ lý vụ án: Sau khi nộp đơn khởi kiện, trong thời hạn 02 ngày làm việc Toà án gửi thông báo bằng văn bản đến các bên về quyền được lựa chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên theo Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án 2020. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ nhận được thông báo, các bên trả lời về việc lựa chọn hoà giải trước khi thụ lý;

(2) Toà án giải quyết yêu cầu hoà giải, đối thoại: Toà án xem xét yêu cầu hoà giải, đối thoại của các bên,

– Trường hợp các bên đồng ý hoà giải, Toà án ra thông báo về việc chuyển vụ việc sang hoà giải bằng văn bản, chỉ định Hoà giải viên (theo yêu cầu của các bên hoặc tự mình chỉ định), và tiến hành chuẩn bị cho phiên hoà giải;

– Trong trường hợp một trong các bên có yêu cầu không hoà giải, từ chối hoà giải hoặc thuộc một trong các trường hợp không tiến hành hoà giải tại Điều 19 Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án 2020, Toà án không tiến hành hoà giải và ra thông báo về việc không tiến hành hoà giải.

2.2. Giai đoạn hoà giải, đối thoại

Giai đoạn hoà giải, đối thoại được quy định từ Điều 20 đến Điều 31 Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án 2020. Thời hạn thực hiện hoà giải, đối thoại là 20 ngày kể từ khi có thông báo tiến hành hoà giải, tuỳ theo tính chất phức tạp, các bên đồng ý kéo dài thời gian hoà giải, đối thoại thì có thể kéo dài hơn nhưng không quá 02 tháng. Việc hoà giải có thể được tiến hành tại Toà án hoặc ngoài Toà án tuỳ theo thoả thuận các bên.Trình tự thực hiện trong giai đoạn này như sau:

(1) Hoà giải viên thực hiện công tác chuẩn bị hoà giải;

(2) Hoà giải viên ấn định thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải và gửi thông báo đến các bên liên quan chậm nhất là 05 ngày sau khi các bên đồng ý gặp nhau để thống nhất phương án giải quyết là hoà giải, đối thoại;

(3) Tiến hành phiên hoà giải:

– Bên khởi kiện, bên bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lần lượt trình bày yêu cầu, ý kiến, nêu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết;

– Hoà giải viên thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 23 Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án, sau đó trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ và đi đến thoả thuận, thống nhất phương án giải quyết đối với tranh chấp, khiếu kiện.

(4) Tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hoà giải, đối thoại. Tiến hành theo trình tự sau:

– Hòa giải viên trình bày tóm tắt diễn biến quá trình hòa giải, đối thoại và nội dung các bên đã thỏa thuận, thống nhất.

– Các bên, người đại diện phát biểu ý kiến về nội dung đã thỏa thuận, thống nhất.

– Trường hợp nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên chưa rõ thì Thẩm phán yêu cầu các bên trình bày bổ sung.

– Hòa giải viên lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại theo quy định tại Điều 31 của Luật này và đọc lại biên bản cho các bên nghe.

– Các bên, người đại diện, người phiên dịch ký hoặc điểm chỉ, Hòa giải viên ký vào biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại.

– Thẩm phán tham gia phiên họp ký xác nhận biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại và phải giữ bí mật thông tin về nội dung hòa giải, đối thoại do các bên cung cấp tại phiên họp theo yêu cầu của họ.

2.3. Giai đoạn sau hoà giải, đối thoại

Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hoà giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại, các bên có quyền yêu cầu hoặc không yêu cầu Toà án công nhận kết quả hoà giải thành, đối thoại thành tại Toà án. Trong trường hợp có yêu cầu, trình tự thủ tục thực hiện như sau:

(1) Hoà giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính để xem xét ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, kết quả đối thoại thành. Thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo;

(2) Thẩm phán được phân công xem xét ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được thực hiện một số quyền như yêu cầu một hoặc các bên trình bày ý kiến về kết quả hoà giải thành, đối thoại thành, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp cho Tòa án tài liệu có liên quan;

(3) Khi xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật HGĐT thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành. Nếu không đủ điều kiện thì Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành và nêu rõ lý do.

3. Thủ tục hoà giải sau khi toà án thụ lý vụ án

Theo quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự. Hoà giải trong tố tụng dân sự có thể được tiến hành tại các thời điểm sau: trước khi mở phiên toà xét xử, tại phiên toà xét xử sơ thẩm hoặc tại phiên toà xét xử phúc thẩm.

3.1. Hoà giải trước khi mở phiên toà xét xử

(1) Theo quy định tai khoản 1 Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sau khi thụ lý vụ án, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Toà án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;

(2) Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hoà giải;

(3) Tiến hành hoà giải:

– Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án;

– Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan lần lượt trình bày yêu cầu khởi kiện, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố (nếu có) và đề xuất quan điểm giải quyết vụ án;

– Sau khi các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày hết ý kiến của mình, Thẩm phán xác định những vấn đề các đương sự đã thống nhất, chưa thống nhất và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất và ra kết luận về những vấn đề mà các đương sự đã thống nhất hoặc, chưa thống nhất.

(4) Nếu hoà giải thành, Toà án ra quyết định công nhận hoà giải thành và chấm dứt vụ án. Nếu hoà giải không thành, thẩm phán tiếp tục thực hiện công tác chuẩn bị cho phiên toà xét xử sơ thẩm.

3.2. Hoà giải tại phiên toà xét xử sơ thẩm

Theo quy định tại Điều 246 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tại phiên toà xét xử sơ thẩm, chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không; trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án

3.3. Hoà giải tại phiên toà xét xử phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì HĐXXPT ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

4. Điểm khác nhau giữa hoà giải trước khi toà án thụ lý vụ án và sau khi toà án thụ lý vụ án

Tiêu chí Hoà giải trước thụ lý Hoà giải sau thụ lý
Đối tượng, phạm vi điều chỉnh Hoạt động hòa giải, đối thoại tại Toà án  được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính. Hoạt động hoà giải trong tố tụng dân sự.
Căn cứ pháp lý Luật Hoà giải, đối thoại tại Tòa án 2020. Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Thời điểm thực hiện Sau khi nộp đơn khởi kiện và trước khi Toà án thụ lý vụ án. – Sau khi thụ lý vụ án, trước khi mở phiên toà xét xử sơ thẩm;

– Tại phiên toà xét xử sơ thẩm;

– Tại phiên toà xét xử phúc thẩm.

Thời gian thực hiện Thông thường là 20 ngày kể từ khi có thông báo tiến hành hoà giải, đối thoại, có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 02 tháng. Tuỳ theo trường hợp và thời điểm hoà giải. Thời điểm hoà giải thành có thể cách từ vài ngày đến vài tháng thậm chí kéo dài hơn kể từ thời điểm thụ lý vụ án.
Thời gian công nhận kết quả hoà giải thành Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo.
Hệ quả pháp lý Quyết định công nhận kết quả hoà giải thành có hiệu lực ngay lập tức và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận kết quả hoà giải thành có hiệu lực ngay lập tức và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Phí Chi phí hoà giải, đối thoại tại Toà án do ngân sách nhà nước chi trả, trừ trường hợp:

– Chi phí hòa giải đối với tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch (2.000.000 đồng/vụ án);

– Chi phí khi các bên thống nhất lựa chọn địa điểm hòa giải, đối thoại ngoài trụ sở Tòa án; chi phí khi Hòa giải viên xem xét hiện trạng tài sản liên quan đến vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính mà tài sản đó nằm ngoài phạm vi địa giới hành chính của tỉnh nơi Tòa án có thẩm quyền giải quyết có trụ sở (tuỳ trường hợp thực tế);

– Chi phí phiên dịch tiếng nước ngoài (tuỳ trường hợp thực tế).

– Hoà giải thành trước khi mở phiên toà xét xử: 50% mức án phí kể cả đối với các vụ án không có giá ngạch;

– Hòa giải thành tại phiên toà xét xử: toàn bộ án phí như khi xét xử vụ án.

5. Lợi ích của việc lựa chọn hoà giải, đối thoại tại Toà án trước khi thụ lý vụ án

Tiết kiệm thời gian: Thời hạn tối đa đối với thủ tục hoà giải, đối thoại tại Toà án là không quá 02 tháng, ngắn hơn rất nhiều so với thủ tục hoà giải sau thụ lý cũng như thủ tục tố tụng tông thường.

– Tiết kiệm chi phí: Các bên không phải chịu chi phí hoà giải trừ những trường hợp cụ thể được quy định. Đối với vụ án có giá ngạch, án phí phải chịu cho mọi vụ án là 2.000.000 đồng/vụ án, tiết kiệm hơn rất nhiều so với án phí tố tụng, đặc biệt là trong những tranh chấp có giá trị lớn.

Bảo mật thông tin: Theo quy định tại Điều 4 Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án thì Hòa giải viên, các bên, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia hòa giải, đối thoại không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại. Trong quá trình hòa giải, đối thoại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại. Việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải.

Quyết định công nhận hoà giải thành có hiệu lực thi hành cao: Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự và iii) được thi hành theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính. Như vậy, kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được Tòa án công nhận bằng thủ tục nhanh gọn và có giá trị thi hành như bản án khi có yêu cầu của các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Các bên không phải trả lệ phí cho thủ tục xét công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án.

Hoài Anh

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Hoà giải trước khi thụ lý và sau khi thụ lý vụ án tại Toà án – Có gì khác nhau?Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật