Theo quy định tại BLDS 2015, năng lực dân sự của cá nhân bao gồm năng lực hành vi dân sự, năng lực pháp luật dân sự. Đây là một chế định quan trọng nhất nhằm điều chỉnh quan hệ pháp luật dân sự. Không những thế, năng lực hành vi năng dân sự và năng lực pháp luật dân sự còn là một trong các yếu tố quan trọng để xác định quyền và nghĩa vụ của cá nhân khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác mà không chỉ giới hạn ở quan hệ pháp luật dân sự.
Vậy, theo pháp luật dân sự hiện hành, năng lực hành vi dân sự và năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được quy định như thế nào? Có những trường hợp đặc biệt nào? Mời Quý vị cùng Luật Emerald tìm hiểu qua bài viết này nhé.
1. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Theo Điều 19 BLDS 2015, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
Khả năng này được xác định bởi độ tuổi, khả năng nhận thức thông thường của cá nhân. Độ tuổi để xác định năng lực hành vi dân sự đối với các loại giao dịch dân sự được quy định tại Điều 20, 21 BLDS 2015 như sau:
a) Người thành niên
Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Theo quy định, người thành niên được xem là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Người thành niên có khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện mọi quyền, nghĩa vụ dân sự, trừ khi có quy định khác.
b) Người chưa thành niên
Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi. Tùy theo độ tuổi mà cá nhân bị giới hạn các loại giao dịch dân sự có thể tham gia khác nhau, cụ thể:
– Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện;
– Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi;
– Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

2. Các trường hợp được xem là có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ
Ngoài các trường hợp có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ do cá nhân chưa đủ 18 tuổi, đối với người thành niên trong một số trường hợp nhất định sẽ được xác định là mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Các trường hợp này được quy định từ Điều 22 đến Điều 24 BLDS 2015 như sau:
a) Người mất năng lực hành vi dân sự
– Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
– Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
b) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
– Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
– Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
c) Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
– Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.
– Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
– Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.
3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
a) Khái niệm và phân biệt
Theo Điều 16 BLDS 2015, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.
Theo quy định hiện hành, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau và không bị hạn chế, trừ trường hợp có quy định khác.
Khác với năng lực hành vi dân sự được xác định mới đổ tuổi, khả năng nhận thức, năng lực pháp luật dân sự được xác định thông qua quy định của pháp luật – được hay không được pháp luật trao quyền, nghĩa vụ.
Ví dụ:
– Cá nhân là người nước ngoài không được phép nhận chuyển nhượng, đứng tên quyền sử dụng đất (trừ một số trường hợp đặt biệt) => Họ không có quyền – đây là năng lực pháp luật bị hạn chế.
– Cá nhân là công chức nhà nước không được thành lập, quản lý doanh nghiệp => Họ có quyền, nhưng bị hạn chế việc thực hiện quyền trong trường hợp cụ thể (là công chức). Đây không phải là hạn chế năng lực pháp luật dân sự.
b) Nội dung của năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân bao gồm:
– Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.
– Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản.
– Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.
Hoài Anh
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Thời hạn là gì? Quy định về thời hạn theo BLDS 2015”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.vaa@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.