Khi quy định về xét xử phúc thẩm, Điều 330 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2021 quy định: “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”. Như vậy, cơ sở để Toà án tiến hành xét xử phúc thẩm chính là kháng cáo, kháng nghị của những chủ thể có thẩm quyền.
Pháp luật hiện hành không quy định kháng cáo là gì, tuy nhiên có thể hiểu kháng cáo là quyền của công dân khi không đồng ý với bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm và đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án, quyết định đó. Bài viết sau đây, Luật Emerald sẽ cùng bạn tìm hiểu các quy định về kháng cáo trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chủ thể và phạm vi kháng cáo
Theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự, những người có quyền kháng cáo, tương ứng với phạm vi họ có thể kháng cáo được liệt kê như sau:
| Chủ thể | Phạm vi |
| Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ | Bản án hoặc quyết định sơ thẩm |
| Người bào chữa (trong trường hợp bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất) | Bản án hoặc quyết định sơ thẩm |
| Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ | Phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại |
| Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ | Phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ |
| Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất | Phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ |
| Người được Tòa án tuyên không có tội | Các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội |
Liên quan đến vụ án nam sinh lớp 8 bị đánh chết não ở Hà Nội vừa được xét xử sở thẩm ở TAND quận Long Biên (Hà Nội) vào chiều ngày 17/12/2024, Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Trương Văn Minh (SN 2008) mức án 4 năm 9 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, bồi thường cho gia đình bị hại số tiền hơn 1 tỷ đồng.
Bào chữa cho phía bị hại, luật sư không nhất trí với tội danh của bị cáo, đề nghị tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Theo quan điểm của luật sư, ông Trương Văn Tâm (SN 1979, bố của bị cáo) là đồng phạm với vai trò giúp sức. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa truy cứu trách nhiệm của ông Tâm là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Bên cạnh đó theo luật sư, số tiền thiệt hại liên quan đến điều trị, mai táng và tiền tổn thất tinh thần là hơn 1,2 tỷ đồng. Bà Nguyễn Thị Lan, mẹ đẻ của bị hại đã có đơn yêu cầu bồi thường số tiền kể trên và gửi cho TAND quận Long Biên kèm bảng thống kê tài liệu và số tiền bồi thường.
Trong trường hợp này, nếu không đồng ý với bản án sơ thẩm, đại diện của bị hại có thể căn cứ theo khoản 1 Điều 331 để kháng cáo trên phạm vi toàn bộ bản án sơ thẩm trên.

Xem thêm: Vụ nam sinh lớp 8 bị đánh chết não ở Hà Nội: Tuyên phạt bị cáo 4 năm 9 tháng tù
2. Thủ tục kháng cáo
Trình tự thủ tục kháng cáo được quy định chi tiết tại Điều 332 và Điều 334 Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể:
Người có quyền kháng cáo gửi đơn kháng cáo:
– Người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.
– Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo và chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.
Kháng cáo trực tiếp: Người kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo. Khi đó, Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo.
Nội dung đơn kháng cáo:
– Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
– Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;
– Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;
– Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo.
Tiếp nhận và xử lý kháng cáo:
Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung.
Sau khi nhận được đơn kháng cáo hoặc biên bản về việc kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải vào sổ tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định của Bộ luật này.
– Đơn kháng cáo hợp lệ: Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về việc kháng cáo.
– Đơn kháng cáo hợp lệ nhưng nội dung kháng cáo chưa rõ: Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho người kháng cáo để làm rõ.
– Đơn kháng cáo đúng quy định nhưng quá thời hạn kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do và xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng.
– Người làm đơn kháng cáo không có quyền kháng cáo: Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Tòa án trả lại đơn và thông báo bằng văn bản cho người làm đơn, Viện kiểm sát cùng cấp. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do của việc trả lại đơn.
Việc trả lại đơn có thể bị khiếu nại trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo.

3. Thời hạn kháng cáo
Thời hạn kháng cáo được quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, theo đó:
– Đối với bản án sơ thẩm: 15 ngày:
+ Kể từ ngày tuyên án.
+ Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
– Đối với quyết định sơ thẩm: 07 ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.
– Ngày kháng cáo được xác định như sau:
+ Đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính: ngày theo dấu bưu chính nơi gửi;
+ Đơn kháng cáo gửi qua Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ: ngày Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ nhận được đơn.
+ Nộp đơn kháng cáo tại Tòa án: ngày Tòa án nhận đơn.
+ Trình bày trực tiếp với Tòa án: ngày Tòa án lập biên bản về việc kháng cáo.
Lưu ý khi kháng cáo quá hạn: Trong trường hợp nhận được kháng cáo quá hạn, Hội đồng gồm 03 Thẩm phán sẽ được lập ra để xem xét và ra quyết định chấp nhận kháng cáo quá hạn (nếu có lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan) hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn đó. Quy định chi tiết tại Điều 335 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xem thêm: Mẫu Đơn kháng cáo- Mẫu số 54-DS
Phan Văn Có
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Kháng cáo bản án, quyết định hình sự sơ thẩm”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.