Giao dịch dân sự, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

11/02/2025
Giao dịch dân sự, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là một trong những chế định cốt lõi trong pháp luật dân sự. Là tiền đề cho nhiều quy định pháp luật khác như hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại, bồi thường thiệt hại, …

Vậy, giao dịch dân sự là gì? Khi nào thì giao dịch dân sự có hiệu lực? Mời Quý vị cùng Luật Emerald tìm hiểu thông qua bài viết dưới đây.

1. Khái niệm về giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự là khái niệm được quy định tại Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Trong đó:

– Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Có thể kể đến một số loại hợp đồng phổ biến như hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng cho thuê tài sản, …

– Hành vi pháp lý đơn phương là hành vi thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm thay đổi, phát sinh, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự, có thể kể đến như hành vi lập di chúc, hứa thưởng, giấy ủy quyền, … Sự khác biệt cơ bản của hành vi pháp lý đơn phương so với thỏa thuận, hợp đồng là nội dung của giao dịch dân sự không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại, cũng như quyền của bên này không làm phát sinh nghĩa vụ tương xứng của bên kia.

Giao dịch dân sự có thể được thể hiện thông qua 03 hình thức: (1) lời nói, (2) bằng văn bản hoặc (3) bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên, đối với một số trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện dưới hình thức cụ thểm hoặc phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

2. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Theo quy định tại Điều 117 BLDS 2015, để giao dịch dân sự có hiệu lực, cần phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện sau:

  • Về chủ thể

Chủ thể trong giao dịch dân sự phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch được xác lập. Trong đó:

– Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Bao gồm: Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản, quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản và quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó.

– Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Yếu tố này được đánh giá theo từng độ tuổi và khả năng nhận thức, có trí tuệ bình thường để cá nhân có thể hiểu và làm chủ được hành vi của mình khi xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về những hành vi đó.

Ví dụ:

– Người mất năng lực hành vi dân sự thì không được tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện; người dưới 15 tuổi không được tự mình xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến bất động sản đồng sản phải đăng ký;

– Ông A có năng lực hành vi dân sự đầy đủ cũng không thể tự ý tặng cho chiếc điện thoại của bà B cho bà C vì ông A không có năng lực pháp luật đối với đối tượng và hành vi trên (ông không có quyền định đoạt đối với chiếc điện thoại của bà B).

Các chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải hoàn toàn tự nguyện. Đây cũng là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật dân sự được thể hiện tại khoản 2 Điều 3 BLDS 2015. Không ai được bắt ép, đe dọa ai xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, nếu có, giao dịch đó sẽ thuộc trường hợp vô hiệu theo quy định của pháp luật.

  • Về mục đích và nội dung

Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Bản chất của giao dịch dân sự là thỏa thuận giữa các bên hoặc hành vi pháp lý đơn phương, tuy nhiên không phải thỏa thuận, hành vi nào cũng được xác lập, thực hiện mà phải tuân thủ quy định của pháp luật, không được vi phạm điều cấm hay trái với đạo đức xã hội.

Ví dụ:

– Không được phép giao dịch, mua bán ma túy vì đây là hành vi bị pháp luật cấm;

– Hành vi lập hợp đồng hôn nhân, kết hôn không trên tinh thần tự nguyện nhằm mục đích xây dựng gia đình (trừ thỏa thuận về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng; quyền và nghĩa vụ của mỗi người đối với các khối tài sản này; điều kiện, thủ tục phân chia tài sản khi ly hôn được thành lập trước khi kết hôn) vừa là giao dịch dân sự trái với đạo đức xã hội dẫn đến khả năng hợp đồng bị tuyên vô hiệu, vừa có thể là hành vi vi phạm pháp luật và phải chịu chế tài theo quy định.

Giao dịch dân sự và điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

  • Về hình thức của giao dịch dân sự

Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện bắt buộc chỉ khi pháp luật quy định hình thức của giao dịch đó là điệu kiện có hiệu lực, Khi đó, các bên phải tuân thủ về hình thức theo quy định.

Ví dụ, đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, pháp luật quy định giao dịch này phải được thành lập bằng văn bản có công chứng, chứng thực. Nếu không đảm bảo về hình thức, giao dịch trên có thể bị tuyên vô hiệu.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 129 BLDS 2015, có 02 trường hợp giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức vẫn không bị tuyên vô hiệu:

– Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;

– Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Ví dụ, A bán thửa đất X cho B với giá 600 triệu đồng, hợp đồng chỉ lập bằng văn bản mà không công chứng, chứng thực. B đã thanh toán 450 triệu đồng, nhưng lúc này A muốn hủy giao dịch, yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, do B đã thực hiện hơn hai phần ba nghĩa vụ, Tòa án sẽ công nhận hiệu lực hợp đồng mà không cần phải công chứng, chứng thực.

Như vậy, giao dịch dân sự là nền tảng quan trọng trong các quan hệ pháp luật, là căn cứ để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Để đảm bảo hiệu lực, giao dịch phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, nội dung, hình thức theo quy định của pháp luật, không tuân thủ về điều kiện có hiệu lực có thể khiến cho giao dịch bị tuyên vô hiệu. Hiểu rõ các quy định này giúp cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, hạn chế được rủi ro khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Hoài Anh

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Giao dịch dân sự, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sựNếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật