Trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, vấn đề xử lý tài sản cầm cố, thế chấp giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi đây là phương thức trực tiếp bảo đảm quyền thu hồi nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết. Pháp luật dân sự Việt Nam, thông qua các quy định của Bộ luật Dân sự 2015, đã ghi nhận nhiều phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp khác nhau, từ những phương thức mang tính truyền thống như bán đấu giá tài sản đến các phương thức linh hoạt hơn như bên nhận bảo đảm tự bán tài sản hoặc nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ. Việc quy định đa dạng các phương thức xử lý tài sản không chỉ tạo điều kiện cho các bên lựa chọn cách thức phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà còn góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong thực tiễn giao dịch dân sự. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời bạn đọc tìm hiểu nội dung: “Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp” dưới đây.
1. Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm
Trước tiên, cần phải xác định các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm, theo quy định tại Điều 299 BLDS 2015, các trường hợp bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm bao gồm:
“1. Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
3. Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.”
Như vậy, Điều 299 BLDS 2015 được cho là điều kiện kích hoạt quyền xử lý tài sản, giải đáp câu hỏi “Khi nào được xử lý tài sản bảo đảm?” mà các bên đặt ra. Ngoài các trường hợp quy định cụ thể tại khoản 1 và khoản 2, khoản 3 Điều 299 BLDS 2015 cũng đề cập đến các trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định, điều này cho thấy pháp luật đề cao yếu tố thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ cầm cố, thế chấp, giúp mở rộng phạm vi áp dụng cho nhiều tình huống thực tiễn phát sinh.
Ví dụ: Anh A vay của Ngân hàng X 2 tỷ đồng, thời hạn 24 tháng. Để bảo đảm khoản vay, anh A thế chấp căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình. Đến hạn trả nợ, anh A không có khả năng thanh toán, không trả được nợ đúng hạn. Lúc này bên nhận tài sản bảo đảm là Ngân hàng X có quyền xử lý tài sản bảo đảm là căn nhà thế chấp của anh A theo quy định tại khoản 1 Điều này vì đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà anh A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình.
2. Các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
Theo Điều 303 BLDS 2015 quy định về các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, cụ thể như sau:
“1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:
a) Bán đấu giá tài sản;
b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;
c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;
d) Phương thức khác.
2. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.”
Điều luật này cũng quy định khả năng các bên có thể thỏa thuận về các phương thức xử lý tài sản bảo đảm khác, ngoài ba phương thức đã được liệt kê. Chẳng hạn, các bên có thể thỏa thuận về việc đưa tài sản bảo đảm vào khai thác hay cho thuê và số tiền thu được từ việc khai thác hay cho thuê sẽ được sử dụng vào việc thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm.
Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều này cũng quy định trong trường hợp các bên không có thỏa thuận cụ thể về phương thức xử lý, pháp luật buộc phải áp dụng hình thức bán đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, hạn chế rủi ro tài sản bị định giá thấp gây thiệt hại cho bên bảo đảm.
2.1. Bán đấu giá tài sản
Đấu giá tài sản là hình thức trả giá, chấp nhận giá có từ hai người trở lên tham gia theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định tại Luật Đấu giá tài sản (theo khoản 2 Điều 5 Luật đấu giá tài sản). Đây là phương thức bán tài sản phổ biến nhất để xử lý tài sản bảo đảm và tài sản thi hành án. Phương thức bán đấu giá tài sản có thể được sử dụng để xử lý tài sản bảo đảm trong các trường hợp sau:
– Nếu các bên có thỏa thuận sử dụng phương thức xử lý bảo đảm này;
– Bán tài sản đã kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản thì do tổ chức bán đấu giá thực hiện; Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự bán đấu giá tài sản kê biên đối với động sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (Điều 101, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014);
– Trong trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm (khoản 2, Điều 303, Bộ luật dân sự 2015).
Phương thức này đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình xử lý tài sản, đồng thời hạn chế nguy cơ tài sản bị bán thấp hơn so với giá thị trường do ý chí chủ quan của bên nhận bảo đảm. Việc bán đấu giá tài sản được điều chỉnh bởi Luật Đấu giá tài sản số 01/2016/QH14.
2.2. Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản
Theo nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự 2015, chỉ chủ sở hữu mới có quyền định đoạt tài sản, trừ trường hợp người không phải là chủ sở hữu được thực hiện quyền định đoạt theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật, được quy định tại Điều 195 Bộ luật này. Tuy nhiên, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 303 đã thiết lập một ngoại lệ quan trọng khi cho phép bên nhận bảo đảm, dù không phải là chủ sở hữu tài sản bảo đảm, vẫn có quyền tự bán tài sản bảo đảm trong trường hợp xử lý tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Ngoại lệ này nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý tài sản bảo đảm được thực hiện kịp thời, hiệu quả, đồng thời phản ánh đặc thù của quan hệ bảo đảm, nơi mà quyền định đoạt tài sản của bên nhận bảo đảm chỉ phát sinh trong phạm vi cần thiết để bảo đảm thu hồi nghĩa vụ đã được bảo đảm, chứ không làm thay đổi địa vị pháp lý của họ với tư cách là chủ sở hữu tài sản.
Trên thực tế, trong các hợp đồng thế chấp, đặc biệt là các hợp đồng thế chấp khoản vay với Ngân hàng, các bên đều thỏa thuận phương thức này để xử lý tài sản thế chấp với nội dung như “bên nhận thế chấp trực tiếp bán hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác bán tài sản thế chấp”. Điều luật này không giới hạn về phương thức tự bán tài sản thế chấp nên bên nhận thế chấp có thể thực hiện các hình thức bán khác nhau phù hợp với quy định pháp luật. Về thời điểm thỏa thuận bán tài sản thế chấp thì pháp luật cũng không quy định, các bên có thể thỏa thuận khi giao kết hợp đồng thế chấp tài sản hoặc tại thời điểm xử lý tài sản thế chấp để quy trình xử lý diễn ra nhanh chóng.
2.3. Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm
Khác biệt so với 02 phương thức trên, việc bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm (thường gọi là cấn trừ nợ bằng tài sản) cho phép bên bảo đảm chuyển giao trực tiếp quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm. Trong trường hợp có sự chênh lệch giữa giá trị tài sản cầm cố, thế chấp với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm (giá trị tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm), bên nhận bảo đảm cần phải thanh toán một khoản chi phí hợp lý đối với phần chênh lệch này. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, phương thức này chỉ áp dụng khi bên thế chấp phải đồng thời là bên có nghĩa vụ mà không áp dụng trong trường hợp bên thế chấp sử dụng tài sản của mình để thế chấp bảo đảm nghĩa vụ cho bên thứ ba.
Đối với trường hợp bên nhận bảo đảm là các tổ chức tín dụng, căn cứ tại khoản 3 Điều 144 Luật các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 quy định:
“3. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được mua, đầu tư tài sản cố định phục vụ trực tiếp cho hoạt động của mình, bảo đảm tỷ lệ giá trị còn lại của tài sản cố định như sau:
a) Không được vượt quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ ghi trên sổ sách kế toán đối với ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô;
b) Không được vượt quá 100% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ ghi trên sổ sách kế toán đối với quỹ tín dụng nhân dân;
c) Không được vượt quá 50% vốn được cấp và quỹ dự trữ bổ sung vốn được cấp ghi trên sổ sách kế toán đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài.”
Do đó, trước khi các tổ chức tín dụng thực hiện phương án nhận tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm thì tổ chức tín dụng cần phải xác định xem sau khi áp dụng phương thức xử lý này có dẫn đến giá trị tài sản cố định của mình có vượt quá 50% vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hay không, nếu vượt thì không được phép nhận.
3. Trình tự xử lý tài sản bảo đảm
Căn cứ các quy định liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm trong BLDS 2015, cơ chế xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được xây dựng theo một trình tự hợp lý nhằm bảo đảm sự cân bằng lợi ích giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm, đồng thời bảo đảm tính minh bạch và an toàn pháp lý cho các chủ thể có liên quan. Theo đó, quá trình xử lý tài sản gồm các bước cơ bản: thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm; giao tài sản bảo đảm, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp; định giá tài sản bảo đảm; bán tài sản cầm cố, thế chấp và thanh toán số tiền thu được từ việc xử lý tài sản. Quá trình này góp phần đảm bảo tính khách quan trong việc xác định giá trị tài sản, tính minh bạch trong quá trình bán tài sản và sự công bằng trong phân chia lợi ích giữa các bên liên quan.
3.1. Thông báo xử lý tài sản bảo đảm
Căn cứ theo Điều 51 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, việc thông báo xử lý tài sản bảo đảm thực hiện theo thỏa thuận, trường hợp không có thỏa thuận thì bên nhận bảo đảm trực tiếp gửi văn bản thông báo cho bên bảo đảm hoặc thông qua ủy quyền hoặc các phương thức khác đến địa chỉ được bên bảo đảm cung cấp. Đối với tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ hoặc được giữ bởi người khác thì văn bản thông báo phải được gửi đồng thời cho các bên có liên quan.
Về thời hạn thông báo xử lý tài sản được thực hiện theo thỏa thuận. Trong trường hợp không có thỏa thuận thì phải thực hiện trong thời hạn hợp lý, trước ít nhất 10 ngày đối với động sản hoặc trước ít nhất 15 ngày đối với bất động sản tính đến thời điểm xử lý tài sản bảo đảm, trừ trường hợp tài sản bảo đảm bị xử lý ngay theo quy định tại khoản 1 Điều 300 BLDS 2015.
3.2. Giao tài sản bảo đảm, xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
Căn cứ theo Điều 52 Nghị định 21//2021/NĐ-CP: Bên bảo đảm hoặc người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm theo thông báo về xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 51 Nghị định này.
Trong trường hợp bên bảo đảm hoặc người đang giữ tài sản không giao tài sản bảo đảm thì bên nhận bảo đảm có quyền xem xét, kiểm tra thực tế tài sản bảo đảm để ngăn chặn việc tẩu tán tài sản bảo đảm, để xử lý hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bên bảo đảm hoặc người đang giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản bảo đảm theo thỏa thuận hoặc không giao tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 301 của Bộ luật Dân sự, không phối hợp hoặc có hành vi cản trở việc xem xét, kiểm tra thực tế tài sản bảo đảm mà gây thiệt hại cho bên nhận bảo đảm thì phải bồi thường.
3.3. Định giá tài sản bảo đảm
Điều 306 BLDS 2015 quy định về định giá tài sản bảo đảm như sau:
“1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm.
Trường hợp không có thỏa thuận thì tài sản được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản.
2. Việc định giá tài sản bảo đảm phải bảo đảm khách quan, phù hợp với giá thị trường.
3. Tổ chức định giá phải bồi thường thiệt hại nếu có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại cho bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm trong quá trình định giá tài sản bảo đảm.”
Có thể thấy, pháp luật cho phép bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm được quyền thỏa thuận trực tiếp về giá tài sản bảo đảm khi xử lý tài sản hoặc lựa chọn tổ chức định giá tài sản để xác định giá trị tài sản. Trường hợp hai bên không đạt được thỏa thuận, tài sản bắt buộc phải được định giá thông qua tổ chức định giá tài sản. Tuy nhiên trong thực tế, việc các bên tự định giá chỉ khả thi khi quan hệ giữa các bên còn tương đối thiện chí hoặc tài sản bảo đảm có giá trị không quá lớn. Còn đối với tài sản có giá trị cao (nhà đất, dự án), các bên thường lựa chọn tổ chức định giá để hạn chế tranh chấp về sau liên quan đến việc định giá “quá thấp” hoặc “quá cao”.
3.4. Bán tài sản cầm cố, thế chấp
Điều 304 BLDS 2015 quy định về việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, cụ thể:
“1. Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
2. Việc tự bán tài sản cầm cố, thế chấp của bên nhận bảo đảm được thực hiện theo quy định về bán tài sản trong Bộ luật này và quy định sau đây:
a) Việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 307 của Bộ luật này;
b) Sau khi có kết quả bán tài sản thì chủ sở hữu tài sản và bên có quyền xử lý tài sản phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua tài sản.”
Theo quy định này, việc bán tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo hai phương thức là bán đấu giá tài sản hoặc bên nhận bảo đảm tự bán tài sản, trong đó mỗi phương thức đều chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch và cân bằng lợi ích giữa các bên. Trường hợp bán đấu giá, toàn bộ trình tự, thủ tục bán tài sản phải tuân theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản, qua đó hạn chế nguy cơ tài sản bị định giá thấp hoặc bị xử lý một cách tùy tiện, đồng thời bảo đảm tính an toàn pháp lý cho bên mua tài sản. Trường hợp bên nhận bảo đảm tự bán tài sản, việc bán tài sản phải tuân theo các quy định chung về bán tài sản trong Bộ luật Dân sự và bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ bổ sung, bao gồm nghĩa vụ thanh toán số tiền thu được từ việc xử lý tài sản theo đúng cơ chế phân chia quy định của pháp luật và nghĩa vụ phối hợp với chủ sở hữu tài sản để hoàn tất các thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua. Cơ chế này vừa tạo điều kiện cho bên nhận bảo đảm linh hoạt, chủ động trong việc thu hồi nghĩa vụ được bảo đảm, vừa đặt ra các hàng rào pháp lý cần thiết nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm dụng quyền xử lý tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bảo đảm cũng như của bên mua tài sản.
3.5. Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp
1. Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 308 của Bộ luật này.
2. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch phải được trả cho bên bảo đảm.
3. Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ được bảo đảm phải thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán.”
Trường hợp số tiền thu được lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm, phần chênh lệch bắt buộc phải hoàn trả cho bên bảo đảm, điều này thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu của chủ thể đối với phần giá trị tài sản vượt quá phạm vi bảo đảm nghĩa vụ. Ngược lại, nếu số tiền thu được không đủ để thanh toán toàn bộ nghĩa vụ được bảo đảm, thì phần nghĩa vụ còn thiếu được xác định là nghĩa vụ không có bảo đảm, đồng thời bên nhận bảo đảm vẫn có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bổ sung tài sản bảo đảm. Quy định này góp phần phân định rạch ròi phạm vi trách nhiệm của các bên, đồng thời cân bằng lợi ích giữa việc bảo vệ quyền thu hồi nợ của bên nhận bảo đảm và việc hạn chế rủi ro cho bên bảo đảm khi giá trị tài sản xử lý không đủ bù đắp nghĩa vụ.
Bên cạnh đó, để đảm bảo tính công bằng và trật tự trong quá trình thanh toán nghĩa vụ cho các bên liên quan, số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố thế chấp phải được thanh toán theo thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm. Cụ thể được quy định tại Điều 308 BLDS 2015 như sau:

“Điều 308. Thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm
1. Khi một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm được xác định như sau:
a) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng;
b) Trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước;
c) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.
2. Thứ tự ưu tiên thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền.”
Trường hợp tất cả các biện pháp bảo đảm đều đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba (chẳng hạn đều đã đăng ký biện pháp bảo đảm theo quy định), thì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thời điểm xác lập hiệu lực đối kháng, nghĩa là bên nào hoàn tất thủ tục làm phát sinh hiệu lực đối kháng sớm hơn sẽ được thanh toán trước. Ví dụ, một căn nhà được thế chấp cho Ngân hàng A và sau đó tiếp tục thế chấp cho Ngân hàng B, nếu cả hai giao dịch đều được đăng ký hợp lệ thì khi xử lý căn nhà, Ngân hàng A – bên đăng ký trước sẽ được ưu tiên thanh toán trước Ngân hàng B.
Trường hợp có biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, còn biện pháp bảo đảm khác thì chưa phát sinh hiệu lực đối kháng, thì nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp đã có hiệu lực đối kháng sẽ được thanh toán trước. Chẳng hạn, cùng một chiếc ô tô được thế chấp cho Công ty X và đã đăng ký giao dịch bảo đảm, sau đó chủ xe tiếp tục dùng ô tô này để bảo đảm cho khoản vay của cá nhân Y nhưng không đăng ký biện pháp bảo đảm thì khi xử lý ô tô, Công ty X sẽ được ưu tiên thanh toán trước cá nhân Y.
Trường hợp tất cả các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba, thì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm, tức là bên nhận bảo đảm nào được xác lập trước thì được thanh toán trước. Ví dụ, một chiếc xe được dùng để cầm cố cho chủ nợ A trước, sau đó tiếp tục cầm cố cho chủ nợ B nhưng cả hai trường hợp này đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì khi xử lý máy móc, chủ nợ A sẽ được ưu tiên thanh toán trước chủ nợ B.
Bên cạnh đó, pháp luật còn cho phép các bên cùng nhận bảo đảm được thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau, thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận; tuy nhiên, trong trường hợp có việc thế quyền ưu tiên thanh toán, thì bên thế quyền chỉ được hưởng quyền ưu tiên trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền. Qua đó ngăn ngừa việc lạm dụng quyền ưu tiên vượt quá phạm vi pháp luật cho phép và bảo vệ sự ổn định của trật tự ưu tiên giữa các chủ thể cùng nhận bảo đảm. Ví dụ, A dùng căn nhà (trị giá 1 tỷ) của mình thế chấp khoản nợ với Ngân hàng X, Công ty Y và Công ty Z, A nợ Ngân hàng X 400 triệu, nợ Công ty Y 500 triệu và nợ Công ty Z 800 triệu. X và Z có thể thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau, tuy nhiên khi thay đổi thứ tự thanh toán thì Công ty Z chỉ được hưởng quyền ưu tiên thanh toán 400 triệu (nằm trong phạm vi hưởng quyền ưu tiên bảo đảm của X).
Từ các quy định về phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp trong BLDS 2015, có thể thấy pháp luật đã xây dựng một cơ chế khá linh hoạt, cho phép các bên chủ động lựa chọn cách thức xử lý tài sản phù hợp với đặc điểm của từng loại tài sản và điều kiện thực tế của giao dịch. Việc thừa nhận đồng thời nhiều phương thức xử lý tài sản không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm mà còn tạo không gian pháp lý để các bên thỏa thuận, hạn chế tình trạng áp dụng cứng nhắc một phương thức duy nhất trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, để các phương thức này phát huy đầy đủ ý nghĩa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, việc áp dụng trên thực tế vẫn cần được đặt trong khuôn khổ kiểm soát chặt chẽ, bảo đảm tính minh bạch và hạn chế nguy cơ lạm dụng quyền xử lý tài sản.
Thúy Hằng
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.