Khi đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì đương sự phải cung cấp được chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, không phải tình tiết, sự kiện nào đương sự cũng phải chứng minh. Vậy những tình tiết nào không phải chứng minh theo quy định của pháp luật? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, quý bạn đọc hãy cùng Emerald tìm hiểu nhé.
1. Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự
Trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Việc chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ là điều kiện quan trọng để Tòa án chấp nhận yêu cầu của đương sự. Bên cạnh đó, Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
Xem thêm bài viết Chứng cứ, chứng minh kèm theo đơn khởi kiện tại đây.
2. Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định của pháp luật
Theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, những tình tiết, sự kiện sau đây thì không phải chứng minh:
2.1. Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận
Mục đích của việc chứng minh là để làm rõ các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự. Vì vậy, nếu các tình tiết, sự kiện rõ ràng mà ai cũng biết và được Tòa án thừa nhận thì không phải chứng minh. Đó là những tình tiết, sự kiện phổ biến, xảy ra một cách khách quan trong thực tế. Nếu thiệt hại xảy ra từ các sự kiện, tình tiết này thì không cần phải chứng minh.
Ví dụ: thiên tai (mưa gió, bão, lũ,…), hỏa hoạn, dịch bệnh,…

2.2. Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật
Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật thì không phải chứng minh. Vì những tình tiết, sự kiện này đã được xem xét, đánh giá, chứng minh bằng trình tự, thủ tục theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, việc chứng minh lại là không cần thiết vì mất thời gian, công sức, có thể dẫn đến những kết luận khác nhau về tình tiết, sự kiện, dẫn đến việc phức tạp trong việc giải quyết vụ việc dân sự, làm giảm uy tín của Tòa án.
2.3. Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp
Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014 quy định như sau:
“Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng.”
Bên cạnh đó, tuy không có định nghĩa cụ thể chứng thực, nhưng dựa vào Nghị định 23/2015/NĐ-CP ta có thể thấy rằng Chứng thực là việc cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc xác nhận, chứng nhận một sự việc, giấy tờ, văn bản, chữ ký cá nhân, thông tin cá nhân,..
Từ các quy định trên cho thấy, những tình tiết, sự kiện được ghi trong văn bản và được công chứng chứng thực hợp pháp là những sự kiện, tình tiết đã được những người có quyền hạn, kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ xem xét, đánh giá theo trình tự quy định của pháp luật. Vì vậy, những tình tiết, sự kiện này không cần phải chứng minh.
Tuy nhiên, trong trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan, tổ chức công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính.

2.4. Trường hợp khác
Ngoài các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh đã nêu trên thì còn một trường hợp nữa cũng không cần phải chứng minh. Đó là trường hợp một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh.
Trong trường hợp này, bản chất của sự tranh chấp giữa các đương sự là có sự mâu thuẫn về quyền và lợi ích hợp pháp. Nên khi cả hai cùng chấp nhận một tình tiết, sự kiện nào đó thì tình tiết, sự kiện đó không cần phải chứng minh.
Ví dụ: A vay tiền của B và hai người đã ký với nhau một hợp đồng cho vay tiền nhưng trong hợp đồng vay đó không quy định về tiền lãi. Nhưng khi có tranh chấp xảy ra cả thì hai đều thừa nhận là có tiền lãi và hàng tháng ông A đều trả lãi cho ông B. Thì trường hợp này, khoản lãi dù không có trong hợp đồng nhưng vì ông A và ông B đều thừa nhận nên khoản lãi này không cần phải chứng minh.
Lưu ý: Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện.
Mỹ Duyên
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Những tình tiết không phải chứng minh theo quy định của pháp luật”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.