Đại diện theo quy định của BLDS 2015

04/09/2025
Đại diện theo quy định của BLDS 2015

Trong cuộc sống hằng ngày, các các chủ thể thường tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp vì lý do nào đó mà các chủ thể không thể tự mình trực tiếp tham gia vào các giao dịch dân sự mà phải thông qua người đại diện. Vậy đại diện là gì? Pháp luật quy định như thế nào về đại diện? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này theo quy định của pháp luật, quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé.

1. Đại diện là gì?

Khái niệm về đại diện được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 134 BLDS 2015 như sau:

“Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là ngươi được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.”

Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch thông qua người đại diện. Tuy nhiên, trường hợp pháp luật quy định cá nhân phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó thì họ không được để người khác đại diện.

Ví dụ: Khi đăng ký kết hôn thì hai bên nam và nữ phải có mặt để đăng ký nên trường hợp này họ không thể thực hiện thông qua người đại diện được.

2. Các loại đại diện

Điều 135 BLDS 2015 quy định về căn cứ xác lập quyền đại diện như sau:

“Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật).”

Dựa vào căn cứ xác lập quyền đại diện nêu trên có thể xác định được đại diện có hai loại là đại diện theo ủy quyền và đại diện theo pháp luật. Trong đó, đại diện theo pháp luật còn được chia thành là đại diện theo pháp luật của cá nhân và đại diện theo pháp luật của pháp nhân.

2.1. Đại diện theo pháp luật của cá nhân

Đại diện theo pháp luật của cá nhân là đại diện trong trường hợp cá nhân không có khả năng hoặc chưa đủ khả năng để tự bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia các giao dịch dân sự. Do đó, để bảo vệ các chủ thể này, Điều 136 BLDS 2015 đã quy định người đại diện theo pháp luật của cá nhân gồm:

“- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

– Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định;

– Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện trong hai trường hợp trên;

– Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.”

Ví dụ: Bé A 8 tuổi, cha mẹ của bé sẽ là người đại diện theo pháp luật, họ sẽ thay mặt bé A trong các giao dịch dân sự.

Ví dụ: Anh B bị mất năng lực hành vi dân sự do mắc bệnh tâm thần, người giám hộ của anh B sẽ là người đại diện theo pháp luật của anh B, thay mặt anh B thực hiện các giao dịch dân sự.

2.2. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân

Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân là người có vai trò quan trọng, họ nhân danh pháp nhân để thực hiện các giao dịch, đảm bảo lợi ích của pháp nhân đó. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định tại Điều 137 BLDS 2015 gồm:

“- Người được pháp nhân chỉ định theo điều lệ;

– Người có thẩm quyền đại diện đại diện theo quy định của pháp luật;

– Người do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.”

Lưu ý: Một pháp nhân có thể có nhiều người đại diện theo pháp luật và mỗi người đại diện có quyền đại diện cho pháp nhân theo quy định tại Điều 140 và Điều 141 của BLDS 2015.

Ví dụ: Ông C là đại diện theo pháp luật của Công ty X theo điều lệ của công ty, ông C có quyền ký kết các hợp đồng và thực hiện các giao dịch nhân danh công ty.

2.3. Đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền là việc cá nhân, pháp nhân ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Đại diện theo ủy quyền dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên với nhau, người được ủy quyền sẽ nhân danh người ủy quyền thực hiện các hành vi pháp lý trong phạm vi được ủy quyền mà hai bên đã thỏa thuận.

Ví dụ: Bà E đi công tác nước ngoài dài ngày nên bà E đã ủy quyền cho anh của mình là ông F quản lý căn hộ đang cho thuê của mình. Ông F có quyền thu tiền thuê nhà, chi trả các chi phí liên quan đến căn hộ và giải quyết các vấn đề phát sinh trong thời gian bà E vắng mặt.

Lưu ý: Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp giao dịch dân sự pháp luật quy định phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

Đại diện 2

3. Phân biệt đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền

Tiêu chí

Đại diện theo pháp luật

Đại diện theo ủy quyền

Khái niệm

Là đại diện được thực hiện do pháp luật quy định hoặc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.

Là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền của người đại diện và người được đại diện.

Căn cứ xác lập quyền đại diện

Quyền đại diện được xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.

Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện.

Năng lực hành vi dân sự của người đại diện

Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện.

Người đại diện không nhất thiết phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

Phạm vi đại diện

Người đại diện theo pháp luật có quyền xá lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định khác.

Người đại diện chỉ được thực hiện các hành vi pháp lý trong phạm vi được ủy quyền.

Thời hạn đại diện

Theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.

Thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền.

Chấm dứt đại diện

Đại diện theo pháp luật chấm dứt trong các trường hợp sau:

– Người đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;

– Người được đại diện là cá nhân chết;

– Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

– Căn cứ khác theo quy định của BLDS hoặc luật khác có liên quan.

Ví dụ: Anh A là đại diện theo pháp luật của Công ty Y. Sau thời gian dài kinh doanh không thuận lợi Công ty Y quyết định giải thể. Khi Công ty Y hoàn tất các thủ tục giải thể thì anh A sẽ không còn là người đại diện theo pháp luật của Công ty Y nữa.

Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong các trường hợp sau:

– Theo thỏa thuận;

– Thời hạn ủy quyền đã hết;

– Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;

– Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

– Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của BLDS 2015;

– Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được.

Ví dụ: A là chủ sở hữu của Công ty X. A ủy quyền cho B thay mặt mình để làm việc với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục thay đổi thông tin trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thời hạn ủy quyền là 6 tháng. Tuy nhiên, trong vòng 3 tháng B đã hoàn thành xong thủ tục nêu trên, khi đó quyền đại diện của B sẽ chấm dứt kể từ thời điểm hoàn thành xong các thủ tục được ủy quyền.

Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Đại diện theo quy định của BLDS 2015”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật