Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự tôi thường nghe báo đài nói về cụm từ “giám đốc thẩm”, “tái thẩm” nhưng chưa hiểu đây là giai đoạn hay thủ tục gì, dựa vào đâu để thực hiện giám đốc thẩm, tái thẩm? Nhờ Luật Emerald có thể giải đáp giúp tôi – Chị QH (Đồng Nai) thắc mắc. Luật Emerald xin đưa ra giải đáp cho chị thông qua bài viết dưới đây.
1. Thủ tục giám đốc thẩm
1.1. Khái niệm
Theo quy định tại Điều 370 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2021, giám đốc thẩm là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.
1.2. Căn cứ kháng nghị
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ được nêu tại Điều 371 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1) Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
2) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;
3) Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
1.3. Chủ thể và phạm vi kháng nghị
Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Điều 373 Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể:
| Chủ thể |
Phạm vi |
|
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. |
Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, (trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). |
| Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương. | Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực. |
| Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao. |
Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ. |
1.4. Thời hạn kháng nghị
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Điều 379 Bộ luật Tố tụng hình sự:
– Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
– Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
– Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

2. Thủ tục tái thẩm
2.1. Khái niệm
Theo quy định tại Điều 397 Bộ luật Tố tụng hình sự, tái thẩm là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó.
2.2. Căn cứ kháng nghị
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 398 Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể:
1) Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật;
2) Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án;
3) Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;
4) Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

2.3. Chủ thể và phạm vi kháng nghị
Theo quy định tại Điều 400 Bộ luật Tố tụng hình sự, những người có quyền kháng nghị thủ tục tái thẩm được liệt kê như sau:
|
Chủ thể |
Phạm vi |
|
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao |
Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, (trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). |
| Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương | Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực |
| Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao |
Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ. |
2.4. Thời hạn kháng nghị
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được quy định tại Điều 401 Bộ luật Tố tụng hình sự:
– Tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được thực hiện trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hạn kháng nghị không được quá 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:
+ 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
+ 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;
+ 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
+ 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
– Tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian và được thực hiện cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
– Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Xem thêm: Kháng cáo bản án, quyết định hình sự sơ thẩm
Phan Văn Có
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.