Tạm ngừng phiên toà hình sự

11/12/2024
Tạm ngừng phiên toà hình sự

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự), một chế định mới được bổ sung thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo của Nhà nước trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đó là tạm ngừng phiên toà.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 250, việc xét xử vụ án hình sự được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ và thời gian tạm ngừng phiên toà. Vậy khi nào tạm ngừng phiên tòa hình sự? Bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu qua bài viết sau đây.

1. Các trường hợp tạm ngừng phiên toà hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc xét xử có thể tạm ngừng khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1.1. Cần phải xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa và có thể thực hiện được trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa

Việc xác minh, thu nhập, bổ sung chứng cứ và quá trình tiếp nhận được quy định tại Điều 252 và Điều 253 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, Toà án tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ bằng các hoạt động:

– Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp. Khi tiếp nhận, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể hỏi người đã cung cấp về những vấn đề có liên quan đến chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó. Việc tiếp nhận được lập biên bản. Ngay sau khi nhận, Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển lại cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án.

– Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án. Cần lưu ý rằng Toà án không thể áp dụng Điều 284 về Yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ vì điều luật này chỉ áp dụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, trước khi khai mạc phiên toà. Điều 284 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như sau:

“1. Khi xét thấy cần bổ sung tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung.

  1. Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ phải bằng văn bản, nêu rõ tài liệu, chứng cứ cần bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra văn bản yêu cầu.
  2. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án tài liệu, chứng cứ được yêu cầu bổ sung. Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.”

– Xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa;

– Xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án;

– Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản ngoài các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, cần định giá tài sản quy định tại Điều 206 và Điều 215 của Bộ luật này; trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại; yêu cầu định giá lại tài sản;

– Trường hợp Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.

1.2.  Do tình trạng sức khỏe, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa nhưng họ có thể tham gia lại phiên tòa trong thời gian 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa

Từ khi phiên toà bắt đầu thì các thành phần tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng có mặt đầy đủ theo quy định.

Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành phiên tòa thì có người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa, Điều tra viên tiến hành điều tra vụ án, Kiểm sát viên kiểm sát điều tra vụ án được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa) hoặc người tham gia tố tụng do tình trạng sức khỏe, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì Toà án có thể quyết định tạm ngừng phiên toà.

Yêu cầu đặt ra là những lý do trên chỉ được tồn tại trong vòng 05 ngày và họ phải có thể tham gia lại phiên toà trong thời gian 05 ngày đó. Ví dụ: khi đang tham gia tố tụng tại phiên toà thì bị cáo bị tụt huyết áp, bất tỉnh.

1.3. Vắng mặt Thư ký Toà án tại phiên toà

Khoản 4 Điều 288 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Trường hợp Thư ký Tòa án bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ án nếu có Thư ký Tòa án dự khuyết; nếu không có người thay thế thì tạm ngừng phiên tòa.”.

Như vậy, để đảm bảo phiên tòa không bị gián đoạn và giải quyết vụ án nhanh chóng kịp thời; đồng thời lường trước việc hoãn, ngừng phiên tòa; Chánh án Tòa án đã phân công Thư ký dự khuyết. Do đó khi Thư ký phiên tòa vắng mặt thì Toà án căn cứ khoản 4 Điều 288 (với lý do Thư ký Tòa án không tiếp tục tham gia phiên tòa) thay thế Thư ký Tòa án bằng Thư ký dự khuyết tiến hành tố tụng và phiên tòa vẫn được tiến hành.

2. Trình tự, thủ tục tạm ngừng phiên toà hình sự

Thời điểm tạm ngừng phiên toà được thể hiện trong tên và nội dung của điều luật – thực hiện tại phiên toà (sau khi Hội đồng xét xử tuyên bố khai mạc phiên toà). Theo quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn tạm ngừng phiên toà không quá 05 ngày kể từ ngày quyết định tạm ngừng phiên toà. Hết thời hạn, việc xét xử vụ án được tiếp tục, nếu không thể thì phải hoãn phiên toà.

Lưu ý: Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa và thông báo cho những người tham gia tố tụng biết.

Phan Văn Có

Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về Tạm ngừng phiên toà hình sự”Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật