Khái niệm ‘chiếm hữu tài sản’ đã trở nên quen thuộc trong đời sống xã hội. Không đơn thuần là một thuật ngữ pháp lý, nó còn được pháp luật Việt Nam ghi nhận và điều chỉnh cụ thể.. Nhưng không phải ai cũng hiểu rõ chiếm hữu tài sản là gì, có những loại nào và hệ quả pháp lý ra sao. Bài viết dưới đây từ Luật Emerald sẽ giúp quý bạn đọc tiếp cận khái niệm này một cách dễ hiểu và đúng theo quy định pháp luật hiện hành.
1. Chiếm hữu tài sản là gì
Khác với các Bộ luật Dân sự 1995 và 2005 chỉ xem chiếm hữu là nội dung của Quyền sở hữu thì Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên đưa ra một định nghĩa rõ ràng và tách biệt về “chiếm hữu” như một chế định riêng biệt, đồng thời tách bạch giữa chiếm hữu và quyền chiếm hữu. Cụ thể, khoản 1 Điều 179 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.”
Điều này bao gồm cả trường hợp chủ sở hữu trực tiếp quản lý tài sản của mình, cũng như trường hợp người chiếm hữu quản lý tài sản theo uỷ quyền, hoặc thông qua giao dịch dân sự hợp pháp với chủ sở hữu, hoặc những trường hợp khác do pháp luật quy định.
Ví dụ:
- Chủ nhà đang ở trong ngôi nhà của mình → chiếm hữu hợp pháp.
- Người được chủ nhà cho thuê nhà → cũng là người chiếm hữu nhưng không phải chủ sở hữu.
- Người chiếm giữ tài sản do nhặt được hoặc mua lại từ người khác → cũng là một dạng chiếm hữu, song có thể hợp pháp hoặc không tùy trường hợp.
2. Phân loại chiếm hữu tài sản
Theo Bộ luật Dân sự 2015, chiếm hữu tài sản được phân thành nhiều loại tùy theo căn cứ pháp luật, nhận thức của người chiếm hữu và tính liên tục trong việc nắm giữ tài sản. Việc phân loại có ý nghĩa quan trọng trong xác định quyền được bảo vệ của người chiếm hữu và trách nhiệm pháp lý khi xảy ra tranh chấp.
2.1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật
Là trường hợp chiếm hữu xuất phát từ căn cứ hợp pháp hoặc được chủ sở hữu cho phép. Ví dụ, chủ sở hữu trực tiếp giữ tài sản; người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản; người nhận chuyển giao quyền chiếm hữu qua hợp đồng dân sự hợp lệ; người phát hiện và giữ tài sản vô chủ hoặc tài sản bị đánh rơi, vùi lấp… theo quy định của pháp luật; hoặc người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm bị thất lạc trong điều kiện cho phép. Tất cả những trường hợp này đều nằm trong Khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự 2015, nên việc chiếm hữu được coi là hợp pháp và được bảo vệ.
1.Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:
a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.
Hệ quả pháp lý: Người chiếm hữu có căn cứ pháp luật được Nhà nước bảo vệ; chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền có quyền yêu cầu tòa án, cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường nếu bị xâm phạm.
Ví dụ: Ông A chủ sở hữu một mảnh đất; ông A trồng cây, canh tác và bảo vệ mảnh đất đó, đây là chiếm hữu hợp pháp.
2.2. Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Theo khoản 2 điều 165 Bộ luật dân sự quy định ngắn gọn như sau: “Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.”
Như vậy Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật là trạng thái nắm giữ tài sản, không phải là chủ sở hữu, không phải được chủ sở hữu ủy quyền và không phải do giao dịch dân sự hợp lệ. Đặc điểm then chốt của loại chiếm hữu này là người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật để xác lập quyền chiếm hữu, nên việc chiếm hữu đó không được pháp luật bảo vệ.
Hệ quả pháp lý: Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không được pháp luật bảo vệ; chủ sở hữu hợp pháp có quyền yêu cầu trả lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Ví dụ: nếu A lấy tài sản của B mà không có sự cho phép hoặc giao dịch hợp pháp, đó là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
2.3. Chiếm hữu ngay tình
Theo Điều 180 Bộ luật dân sự 2015 Chiếm hữu ngay tình: Là việc một người giữ tài sản khi họ có lý do chính đáng để tin rằng mình được quyền chiếm hữu tài sản đó.
Chiếm hữu ngay tình là việc cá nhân hoặc tổ chức giữ tài sản khi họ có lý do chính đáng để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đó. Người chiếm hữu có niềm tin rằng mình có quyền sở hữu tài sản, thường dựa trên các giao dịch pháp lý, họ sử dụng tài sản đó được một thời và công khai. Dù thực tế tài sản có thể không thuộc sở hữu của họ
Thêm vào đó theo khoản 3 Điều 184 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định rằng “Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.”
Hệ quả pháp lý: Người chiếm hữu ngay tình được hưởng bảo vệ dân sự ở mức độ nhất định: được hưởng hoa lợi, lợi tức do tài sản mang lại trong thời gian chiếm hữu; chủ sở hữu vẫn có quyền đòi lại nhưng khi xét đến khả năng xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu thì chiếm hữu phải thỏa các điều kiện (công khai – liên tục – ngay tình).
Ví dụ, Một cá nhân sử dụng đất công khai, không tranh chấp trong thời gian dài, và tin rằng mình có quyền sở hữu hợp pháp.
2.4. Chiếm hữu không ngay tình
Căn cứ tại Điều 181 Bộ luật dân sự 2015 “Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu”
Trái ngược với chiếm hữu ngay tình thì chiếm hữu không ngay tình là khi người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu. Tức là người đó rõ ràng không phải chủ sở hữu hợp pháp hoặc giao dịch của họ là bất hợp pháp. Pháp luật buộc người chiếm hữu phải biết việc chiếm hữu của mình có căn cứ pháp luật hay không.
Hệ quả pháp lý: Không được pháp luật bảo vệ; phải trả lại tài sản ngay; nếu gây thiệt hại phải bồi thường; nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm có thể bị xử lý hình sự
Ví dụ: Một người nhặt được ví, trong đó có giấy tờ tùy thân của chủ, nhưng vẫn giữ làm của riêng.
2.5. Chiếm hữu công khai
Theo Khoản 1, Điều 183 Bộ luật Dân sự 2015:
“Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.”
Chiếm hữu công khai không đơn thuần là việc “giữ tài sản trước mặt người khác”, mà là một trạng thái pháp lý phản ánh sự minh bạch, ổn định và có thể kiểm chứng trong việc chiếm hữu. Nó là một trong ba yếu tố nền tảng (cùng với ngay tình và liên tục) để xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu.
Để được coi là chiếm hữu công khai, hành vi chiếm hữu phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Không giấu giếm: Người chiếm hữu thực hiện hành vi một cách minh bạch, không che đậy, không lén lút.
- Sử dụng đúng công năng: Tài sản được khai thác đúng với chức năng vốn có, phản ánh ý chí sử dụng như chủ sở hữu.
- Bảo quản như tài sản của chính mình: Có hành vi chăm sóc, sửa chữa, bảo dưỡng tài sản như thể là chủ sở hữu thực sự.
- Xã hội thừa nhận: Không có sự phản đối từ cộng đồng hoặc chủ thể có quyền, tạo ra sự ổn định pháp lý
Ví dụ: Bà T sử dụng một mảnh đất hoang để trồng rau suốt 40 năm, không giấu giếm, hàng xóm đều biết, không ai tranh chấp. Bà bảo quản đất như của mình.
2.6. Chiếm hữu liên tục
Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật dân sự 2015.
- Chiếm hữu liên tục là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.
- Việc chiếm hữu không liên tục không được coi là căn cứ để suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 của Bộ luật này.”
Chiếm hữu liên tục là việc một chủ thể nắm giữ tài sản trong một khoảng thời gian nhất định mà không phát sinh tranh chấp về quyền đối với tài sản đó, hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc chiếm hữu vẫn được coi là liên tục ngay cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu thay mặt.
Như vậy Để được công nhận là chiếm hữu liên tục, hành vi chiếm hữu phải đáp ứng hai yếu tố:
- Thời gian ổn định: Việc chiếm hữu phải diễn ra trong một khoảng thời gian tương đối dài, ổn định, không bị gián đoạn bởi hành vi tranh chấp hoặc cưỡng chế hợp pháp.
- Không có tranh chấp pháp lý dứt điểm: Trong thời gian chiếm hữu, không có ai khiếu kiện, hoặc nếu có tranh chấp thì chưa được giải quyết bằng bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật.
Chiếm hữu liên tục cũng là yếu tố cần thiết để áp dụng thời hiệu sở hữu được quy định tại Điều 236 BLDS 2015(Đối với động sản là 10 năm và bất động sản là 30 năm).

3. Hệ quả pháp lý hành vi chiếm hữu tài sản
Theo nguyên tắc chung của pháp luật dân sự, quyền lợi của người chiếm hữu chỉ được công nhận và bảo vệ khi việc chiếm hữu đó có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình vẫn được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khoản 3 Điều 184 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.”
Khi việc chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng được xác định là ngay tình, người chiếm hữu có quyền yêu cầu người đã chuyển giao tài sản cho mình hoàn trả những gì họ đã nhận. Quyền lợi của họ còn được pháp luật bảo vệ theo Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, nếu việc chiếm hữu đáp ứng các điều kiện liên tục (Điều 182), công khai (Điều 183) và kéo dài trong thời hạn 10 năm đối với động sản hoặc 30 năm đối với bất động sản, thì người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình có thể được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu theo Điều 236 Bộ luật Dân sự 2015.
4. Phân biệt giữa chiếm hữu và quyền chiếm hữu
| Tiêu chí | Chiếm hữu | Quyền chiếm hữu |
| Căn cứ pháp lý | Chương XII Bộ luật Dân sự 2015 (định nghĩa chiếm hữu). | Quyền chiếm hữu là một nội dung thuộc quyền sở hữu
(Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015: quyền sở hữu gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt). |
| Khái niệm | Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. | Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. |
| Hệ quả pháp lý | Tùy thuộc vào việc chiếm hữu có căn cứ pháp luật, ngay tình, công khai và liên tục hay không, pháp luật sẽ bảo vệ hoặc không bảo vệ chiếm hữu đó. Cụ thể, chiếm hữu có căn cứ pháp luật sẽ được bảo vệ theo quy định của pháp luật, trong khi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật sẽ không được bảo vệ (Điều 165 và Điều 180–183). Nếu đáp ứng điều kiện ngay tình – công khai – liên tục, có thể dẫn tới xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (ví dụ: 10 năm đối với động sản; 30 năm đối với bất động sản) theo Điều 236. |
– Là một quyền thuộc quyền sở hữu nên được bảo hộ theo chế định quyền sở hữu: khi quyền chiếm hữu được xác lập hợp pháp chủ thể có quyền yêu cầu bảo vệ, ngăn chặn xâm phạm, khởi kiện, chuyển giao hay thế chấp trong phạm vi pháp luật cho phép |
| Ví dụ | Ông A chủ sở hữu một mảnh đất; ông A trồng cây, canh tác và bảo vệ mảnh đất đó, đây là chiếm hữu hợp pháp. | A có một chiếc xe máy, đăng ký xe mang tên của bạn chứng tỏ sự chứng nhận của Nhà nước bạn là chủ sở hữu chiếc xe đó. Với chiếc xe bạn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. |
Thái Nguyên
Trên đây là phần bình luận và chia sẻ của Luật Emerald về chủ đề “Chiếm hữu tài sản là gì?”. Nếu Quý khách hàng cần được giải đáp thắc mắc hoặc tư vấn về các vấn đề pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi qua hotline 1900 299 289, hoặc gửi câu hỏi trực tiếp tại website: emeraldlawfirm.vn hay email: emerald.VAA@gmail.com để được đội ngũ luật sư của Luật Emerald hỗ trợ kịp thời và chính xác.