Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cấp dưỡng không chỉ đơn thuần là một quy định mang tính bắt buộc của Luật Hôn nhân và gia đình mà còn thể hiện đạo đức, nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt. Chế định này phát sinh dựa trên mối quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng, nhằm bảo đảm những nhu cầu thiết yếu nhất cho các thành viên yếu thế khi không còn sống chung một mái nhà. Bài viết dưới đây sẽ tổng hợp toàn bộ các quy định cốt lõi về chủ thể, căn cứ phát sinh, mức cấp dưỡng, phương thức cũng như các chế tài liên quan đến nghĩa vụ này.
1. Cấp dưỡng là gì
Cấp dưỡng là nghĩa vụ được quy định bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo định nghĩa tại Khoản 24 Điều 3, cấp dưỡng là việc “một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này.”
2. Chủ thể trong quan hệ cấp dưỡng
Để làm rõ thêm các chủ thể được đề cập trong quan hệ cấp dưỡng tại định nghĩa nêu trên, Khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 chỉ ra “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.”
Tuy nhiên, nhìn vào chữ “giữa”, không nên nhầm tưởng rằng việc cấp dưỡng chỉ là quan hệ giữa hai chủ thể. Quan hệ cấp dưỡng có thể tồn tại nhiều chủ thể, cụ thể tại trường hợp của Điều 108 một người có thể cấp dưỡng cho nhiều người, hoặc tại trường hợp của Điều 109 là nhiều người cùng cấp dưỡng cho một người hoặc nhiều người.
Ví dụ: – Người cha sau khi ly hôn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cả 2 đứa con do nguời mẹ trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ Khoản 2 Điều 82 và Điều 110;
– Các con đã thành niên không sống chung với cha và/hoặc mẹ đã về già mất khả năng lao động, không có tài sản tích lũy có thể tự nuôi sống bản thân thì phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng căn cứ Điều 111.
3. Căn cứ phát sinh
Nghĩa vụ cấp dưỡng thuộc loại nghĩa vụ có căn cứ phát sinh do luật định tại Khoản 6 Điều 275 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng tùy thuộc vào từng nhóm chủ thể trong quan hệ, bao gồm: cha, mẹ đối với con; con đối với cha, mẹ; giữa anh, chị, em; giữa ông, bà và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng sau khi ly hôn.
Nhìn chung, có thể tóm gọn lại căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng như sau:
– Có người cần được cấp dưỡng là người chưa thành niên hoặc người đã thành niên nhưng không còn/không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, không có người sống chung tương ứng thuộc các nhóm trên;
– Bởi tồn tại người cần được cấp dưỡng, những người trong nhóm quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng nêu trên có thể sẽ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng nếu đủ điều kiện thực hiện cấp dưỡng theo thứ tự lần lượt như sau:
+ Cha mẹ và con cái;
+ Giữa anh chị em;
+ Ông bà và cháu;
+ Cô, dì, chú, cậu, bác và cháu.
Tương tự trong quan hệ giám hộ tại Điều 52 Bộ luật Dân sự 2015, chỉ khi chủ thể ở hàng trên không thể thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì mới xét đến phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng của các chủ thể ở hàng kề dưới.
Ví dụ: Khi một người thành niên mất khả năng lao động, phải xét tới căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ trước tiên. Nếu cha mẹ không còn hoặc không có khả năng cấp dưỡng thì mới xét tới phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng của anh, chị, em của người ấy.
Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 còn có quy định về trường hợp phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng đối với vợ hoặc chồng sau khi ly hôn nếu có bên còn lại khó khăn và có yêu cầu cấp dưỡng với lý do chính đáng.

4. Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng
Theo Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng/người giám hộ của người được cấp dưỡng thỏa thuận dựa trên khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể được thay đổi theo thỏa thuận của hai bên.
Cũng tại Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, không có quy định cứng về chu kỳ cấp dưỡng mà dựa trên thỏa thuận của các bên, bao gồm cả việc thay đổi phương thức hoặc tạm ngừng cấp dưỡng nếu người có nghĩa vụ cấp dưỡng gặp khó khăn về kinh tế.
Trong trường hợp các bên không thể thỏa thuận liên quan đến mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng thì có thể yêu cầu Tòa giải quyết.
5. Căn cứ chấm dứt
Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ quy định tại điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 bao gồm:
– Người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
– Người được cấp dưỡng được nhận làm con nuôi;
– Người cấp dưỡng đã trực tiếp nuôi dưỡng người được cấp dưỡng;
– Người cấp dưỡng hoặc người được cấp dưỡng chết;
– Bên được cấp dưỡng sau khi ly hôn đã kết hôn;
– Trường hợp khác theo quy định của luật.
6. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Bởi nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ có căn cứ phát sinh do luật định chứ không phải bởi thỏa thuận giữa các bên, người có nghĩa vụ cấp dưỡng có thể trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của mình, tất yếu cần có cơ chế bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ này.
Theo đó tại Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người được cấp dưỡng, cha, mẹ, người được giám hộ và người thân thích của người đó, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp Phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó.
Ngoài trách nhiệm dân sự nêu trên, người không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng còn có thể đối mặt với trách nhiệm hành chính. Cụ thể tại Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau ly hôn, nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Trong trường hợp từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính ở quy định trên mà tiếp tục vi phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015, bao gồm cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù 03 tháng đến 02 năm.
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Nghĩa vụ cấp dưỡng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn!