Tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật hôn nhân và gia đình, được quy định chủ yếu tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Việc xác định chính xác đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng không chỉ có ý nghĩa trong quá trình quản lý, sử dụng tài sản của vợ chồng mà còn là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, khi ly hôn hoặc khi thực hiện các giao dịch dân sự với người thứ ba. Trên thực tế, nhiều trường hợp tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nhưng đứng tên một người, tài sản được tặng cho, thừa kế hoặc tài sản hình thành từ tài sản riêng thường gây ra nhiều vướng mắc trong việc xác định quyền sở hữu. Để hiểu rõ các quy định pháp luật liên quan đến tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng cũng như cách thức áp dụng trong thực tiễn, sau đây mời các bạn cùng tìm hiểu nội dung bài viết “Tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014”.
1. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận, trên cơ sở bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng ghi nhận quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với quan hệ tài sản trong hôn nhân.
Trước khi nghiên cứu cụ thể về tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng, cần làm rõ các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Theo Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
“1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.
2. Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
3. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.”
Như vậy, Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã đặt ra những nguyên tắc nền tảng trong chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó nhấn mạnh sự bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hôn nhân đối với việc quản lý và định đoạt tài sản, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích của gia đình và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.
Trên cơ sở nguyên tắc nêu trên, pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành phân chia tài sản của vợ chồng thành hai nhóm cơ bản là tài sản chung và tài sản riêng. Việc xác định chính xác từng loại tài sản có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng cũng như giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn.

2. Tài sản chung của vợ chồng
a. Xác định tài sản chung
Theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, “ Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng; các khoản thu nhập hợp pháp khác; tài sản được thừa kế chung, được tặng cho chung và các tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận xác lập là tài sản chung”. Bên cạnh đó, “Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn cũng được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp quyền sử dụng đất đó được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc được hình thành từ giao dịch bằng tài sản riêng của một bên”.
Tuy nhiên, pháp luật cũng đặt ra ngoại lệ đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong trường hợp vợ chồng đã thực hiện việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Theo khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, kể từ thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đã được chia sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác.
Ngoài việc xác định các loại tài sản thuộc khối tài sản chung, khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 còn quy định “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất và được sử dụng nhằm bảo đảm nhu cầu của gia đình cũng như thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng”. Đồng thời, khoản 3 Điều này ghi nhận nguyên tắc suy đoán tài sản chung, theo đó nếu một tài sản đang có tranh chấp mà không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì tài sản đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng.
Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, quy định thêm về các thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân đó là:
+ Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ: khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
+ Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước.
+ Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Từ các quy định trên có thể khái quát rằng tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản và thu nhập được tạo lập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong trường hợp pháp luật không quy định là tài sản riêng; tài sản được thừa kế chung hoặc tặng cho chung; quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn, trừ các trường hợp ngoại lệ do luật định; các tài sản phục vụ nhu cầu chung của gia đình; tài sản không chứng minh được là tài sản riêng của một bên; và các tài sản khác mà vợ chồng có thỏa thuận xác lập là tài sản chung.
b. Quyền và Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Về quyền, Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định sở hữu chung của vợ chồng là là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.
Cụ thể, theo khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất và được sử dụng nhằm bảo đảm nhu cầu của gia đình cũng như thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Trên cơ sở đó, pháp luật ghi nhận vợ và chồng có địa vị pháp lý bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Mọi quyền liên quan đến khối tài sản chung đều được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng ý chí và lợi ích hợp pháp của cả hai bên.
Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền sở hữu chung của vợ chồng đối với các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng, khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng phải ghi tên của cả vợ và chồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Ngoài ra, theo Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Đặc biệt, đối với những tài sản có giá trị lớn như bất động sản, động sản cần đăng ký quyền sở hữu hoặc là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình, việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch liên quan phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng bằng văn bản nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên đối với khối tài sản chung.
Về nghĩa vụ, theo quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì
“Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;
- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật dân sự thì cha mẹ phải bồi thường;
- Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.”
Ví dụ, trường hợp Anh A và chị B cùng vay tiền ngân hàng để phục vụ mục đích kinh doanh gia đình thì khi này cả 2 cần có trách nhiệm dùng tài sản chung để thanh toán khoản nợ theo quy định của pháp luật.
3. Tài sản riêng của vợ, chồng
a. Xác định tài sản riêng
Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về cơ chế xác định tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:
“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2.Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”
Điều 11 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật là: (i) Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ; (ii) tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác; (iii) khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng.
Như vậy, từ những quy định pháp lý trên có thể xác định tài sản riêng của vợ, chồng gồm bốn loại: Thứ nhất, tài sản riêng mà mỗi người có trước khi kết hôn. Thứ hai, tài sản được thừa kế riêng hoặc tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Thứ ba, tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu riêng của vợ hoặc chồng và tài sản thuộc sở hữu riêng khác theo quy định của pháp luật. Cuối cùng, phần hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản riêng sau khi phân chia tài sản chung của mỗi người.
Ví dụ về các loại tài sản riêng của vợ, chồng như:
+ Căn nhà chồng mua trước khi kết hôn
+ Căn nhà vợ được thừa kế di trúc từ cha mẹ ghi rõ “tặng riêng con gái”
+ Trang sức cá nhân mua bằng tiền riêng hoặc được tặng riêng
b. Quyền và Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng
Về Quyền, theo quy định tại Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì vợ, chồng có các quyền sau:
- Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.
- Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.
- Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
- Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.”
Như vậy, pháp luật ghi nhận quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng trên cơ sở bảo đảm quyền sở hữu của mỗi cá nhân trong quan hệ hôn nhân. Theo đó, mỗi bên có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản riêng của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời, nhằm bảo đảm việc quản lý tài sản không bị gián đoạn, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định trong trường hợp một bên không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng chưa ủy quyền cho người khác quản lý thì bên còn lại có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý phải được thực hiện vì lợi ích của chủ sở hữu tài sản và không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên, quyền định đoạt tài sản riêng không phải trong mọi trường hợp đều được thực hiện một cách tuyệt đối. Theo Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, khi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của người còn lại. Quy định trên thể hiện sự cân bằng giữa quyền sở hữu riêng của mỗi bên với trách nhiệm bảo đảm đời sống chung của gia đình, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình.
Về Nghĩa vụ, theo Điều 45 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì
“Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn;
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật này;
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;
- Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.”
Theo đó, mỗi bên phải tự chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm kết hôn; các nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng; các nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên tự mình xác lập, thực hiện không nhằm đáp ứng nhu cầu của gia đình; và các nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của chính người đó.
Ví dụ, Anh A tự ý vay tiền của một người bạn để mua một chiếc đồng hồ phục vụ nhu cầu cá nhân, không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và cũng không có sự thỏa thuận với vợ là chị B. Trong trường hợp này, khoản vay được xác lập bởi riêng anh A vì mục đích cá nhân. Do đó, anh A phải tự thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản riêng của mình; chị B không phải liên đới chịu trách nhiệm đối với khoản nợ này.
4. Phân chia tài sản chung của vợ chồng
Mặc dù chế độ tài sản của vợ chồng được xây dựng trên nguyên tắc sở hữu chung hợp nhất, pháp luật vẫn cho phép vợ chồng thực hiện việc chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi có nhu cầu. Theo Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cụ thể
- Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”
Theo quy định tại Điều 39 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và ghi nhận trong văn bản. Trường hợp văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì được tính từ ngày lập văn bản. Đối với những tài sản mà pháp luật quy định việc chuyển dịch quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng phải tuân thủ hình thức nhất định thì việc chia tài sản chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hình thức theo quy định. Nếu việc chia tài sản được thực hiện theo bản án hoặc quyết định của Tòa án thì thời điểm có hiệu lực được xác định kể từ ngày bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật.
Về hậu quả pháp lý, như đã trình bày ở trên thì phần hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản riêng sau khi chia tài sản chung sẽ thuộc tài sản riêng của vợ hoặc chồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Đối với phần tài sản chưa được chia thì vẫn thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, việc chia tài sản chung không làm ảnh hưởng đến các quyền và nghĩa vụ về tài sản đã được xác lập trước đó giữa vợ chồng với người thứ ba, trừ khi các bên liên quan có thỏa thuận khác theo quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng cho phép vợ chồng thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 41 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Khi thỏa thuận này có hiệu lực, việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng sẽ được thực hiện theo các quy định chung của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tuy nhiên, phần tài sản đã được chia trước đó vẫn thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Ví dụ: Anh A và chị B là vợ chồng. Năm 2023, do có kế hoạch kinh doanh riêng, hai người lập văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Theo đó, một căn nhà thuộc về chị B và một khoản tiền tiết kiệm thuộc về anh A.
Đến năm 2025, sau khi công việc kinh doanh ổn định, anh A và chị B nhận thấy không còn cần thiết phải duy trì việc phân chia tài sản nữa. Hai người cùng lập văn bản thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung đã thực hiện trước đó. Kể từ thời điểm thỏa thuận này có hiệu lực, các tài sản khác phát sinh sau đó sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo chế độ tài sản luật định
Để bảo đảm quyền lợi của gia đình và của người thứ ba, Điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định một số trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu. Cụ thể, việc chia tài sản sẽ không được công nhận nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền và lợi ích hợp pháp của con hoặc được thực hiện nhằm trốn tránh các nghĩa vụ về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại, thanh toán nợ, nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều này.
5. Nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung
Bên cạnh cơ chế phân định tài sản chung và tài sản riêng, pháp luật hôn nhân và gia đình còn ghi nhận khả năng dịch chuyển tài sản giữa hai khối tài sản này thông qua việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Theo Điều 46 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào tài sản chung được thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên, thể hiện ý chí tự nguyện của chủ sở hữu tài sản riêng trong việc chuyển hóa quyền sở hữu riêng thành quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
Đối với những tài sản mà pháp luật quy định việc xác lập, chuyển dịch quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng phải tuân theo hình thức nhất định, thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung cũng phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về hình thức theo quy định để bảo đảm giá trị pháp lý của giao dịch. Quy định này nhằm hạn chế tranh chấp và bảo đảm tính minh bạch trong việc xác định khối tài sản chung của vợ chồng.
Về hậu quả pháp lý, kể từ thời điểm tài sản riêng được nhập vào tài sản chung, tài sản đó trở thành một bộ phận của khối tài sản chung của vợ chồng và được quản lý, sử dụng theo chế độ sở hữu chung hợp nhất. Đồng thời, các nghĩa vụ tài sản phát sinh liên quan đến tài sản riêng đã được nhập vào tài sản chung sẽ được thực hiện bằng tài sản chung, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Tóm lại, chế định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền sở hữu, quyền lợi ích hợp pháp của mỗi bên trong quan hệ hôn nhân, đồng thời góp phần duy trì sự ổn định của đời sống gia đình. Việc xác định đúng tài sản chung, tài sản riêng giúp vợ chồng thực hiện hiệu quả quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản, cũng như hạn chế các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn. Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định linh hoạt các cơ chế như phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, chấm dứt hiệu lực việc chia tài sản và nhập tài sản riêng vào tài sản chung nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của các bên. Những quy định này không chỉ bảo vệ lợi ích của vợ chồng mà còn bảo đảm quyền lợi của con cái và người thứ ba có liên quan. Vì vậy, việc hiểu và vận dụng đúng các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể và xây dựng quan hệ hôn nhân bền vững, ổn định.
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.
Hoàng gia

