NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN THEO BLDS 2015

09/03/2026
NĂNG LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI CỦA CÁ NHÂN THEO BLDS 2015

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT | Legal House & Partners

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân được hiểu là khả năng pháp lý để một người phải tự mình gánh chịu hậu quả dân sự do hành vi gây thiệt hại của mình. Việc xác định cá nhân có phải bồi thường hay không và bồi thường trong phạm vi nào, không chỉ phụ thuộc vào hành vi gây thiệt hại mà còn gắn chặt với năng lực hành vi dân sự của chủ thể tại thời điểm thiệt hại xảy ra. Trên thực tế, các vấn đề liên quan đến độ tuổi, tình trạng nhận thức, khả năng làm chủ hành vi hoặc trách nhiệm của người giám hộ thường là những yếu tố quyết định trong việc phân định nghĩa vụ bồi thường. Do đó, việc nhận diện đúng và đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tư vấn, giải quyết tranh chấp và áp dụng pháp luật. Bài viết dưới đây sẽ phân tích các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 liên quan đến nội dung này, xin kính mời Quý vị cùng tìm hiểu và đón xem.

Căn cứ tại Điều 586 BLDS 2015 quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:

Điều 586. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

  1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
  2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
  1. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.”

Về bản chất, khi xem xét năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của một cá nhân là đang xem xét khả năng pháp lý và khả năng thực tế của người đó trong việc bồi thường thiệt hại đã gây ra. Trong đó, hai yếu tố thường được đặt ra là năng lực hành vi dân sự và năng lực kinh tế, nhưng năng lực hành vi dân sự vẫn là yếu tố có tính quyết định. Không phải trong mọi trường hợp người gây thiệt hại cũng là người trực tiếp phải bồi thường, mà cần xem xét liệu chủ thể đó có đủ năng lực hành vi dân sự để tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình hay không. Trên cơ sở đó, Điều 586 BLDS 2015 đã phân chia năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân thành các trường hợp sau:

1. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người đủ 18 tuổi trở lên

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 586 BLDS 2015 quy định đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên khi gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Điều này xuất phát từ nguyên tắc chung của pháp luật dân sự về năng lực hành vi dân sự đầy đủ của người thành niên. Cụ thể tại Điều 20 BLDS 2015, người từ đủ 18 trở lên được pháp luật Việt Nam công nhận là người thành niên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Khi đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, cá nhân được pháp luật thừa nhận có khả năng tự mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Đồng nghĩa với việc chủ thể này phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình, trong đó có nghĩa vụ phải tự chịu trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại mình gây ra. Như đã nói ở trên, bên cạnh việc xác định năng lực hành vi dân sự của chủ thể gây ra thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn phụ thuộc vào năng lực kinh tế của chủ thể đó.

Thực tế, việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại không chỉ phụ thuộc vào năng lực hành vi dân sự mà còn gắn với khả năng tài chính của người gây thiệt hại. Tuy nhiên, dù cá nhân có hoặc không có đủ tài sản để bồi thường thì về nguyên tắc trách nhiệm bồi thường vẫn thuộc về chính người gây thiệt hại và pháp luật không đặt ra nghĩa vụ buộc cha mẹ phải bồi thường thay cho người đã thành niên. Trong một số trường hợp, việc cha mẹ hỗ trợ bồi thường chỉ có thể xuất phát từ sự tự nguyện, chứ không phải là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc.

2. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người dưới 18 tuổi

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 21 BLDS 2015 cho thấy người chưa thành niên là những người có độ tuổi chưa đến 18 tuổi. Đối với chủ thể là người chưa thành niên, lúc này năng lực hành vi dân sự của họ vẫn chưa đầy đủ. Do đó, để xác định năng lực chịu trách nhiệm bồi thường của đối tượng này khi có hành vi gây thiệt hại sẽ phụ thuộc vào độ tuổi cụ thể của họ tại thời điểm gây thiệt hại, tùy vào từng độ tuổi mà quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ khác nhau, cụ thể:

  • Đối với người chưa đủ 15 tuổi

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 586 BLDS 2015, khi người chưa đủ 15 tuổi gây thiệt hại thì cha, mẹ của người đó phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị thiệt hại. Quy định này xuất phát từ việc người dưới 15 tuổi tuy đã có một phần năng lực hành vi dân sự nhưng chưa có đầy đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, do đó chưa được pháp luật đặt ra nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đồng thời, ở độ tuổi này cá nhân vẫn đang trong quá trình được cha mẹ chăm sóc, giáo dục và quản lý, vì vậy khi thiệt hại xảy ra thì cha, mẹ với tư cách là người giám hộ phải chịu trách nhiệm bồi thường.

Trong trường hợp tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường, phần thiệt hại còn lại có thể được bù đắp bằng tài sản riêng của người chưa đủ 15 tuổi (nếu có), chẳng hạn như tài sản được thừa kế hoặc được tặng cho. Quy định này không nhằm đặt trách nhiệm bồi thường trực tiếp lên người chưa thành niên, mà chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi cho người bị thiệt hại, phù hợp với nguyên tắc thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời theo quy định của pháp luật dân sự.

  • Đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

Đối với người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, theo quy định tại Khoản 2 Điều 586 BLDS 2015, khi gây thiệt hại thì trước hết họ phải tự bồi thường bằng tài sản của mình. Quy định này xuất phát từ việc pháp luật thừa nhận người trong độ tuổi này đã có một phần năng lực hành vi dân sự và trong một số trường hợp có thể tham gia quan hệ lao động, từ đó hình thành tài sản riêng.

Tuy nhiên, trên thực tế, không phải mọi người trong độ tuổi từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi đều có tài sản riêng hoặc có đủ tài sản để bồi thường thiệt hại. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi cho người bị thiệt hại, pháp luật quy định rằng trong trường hợp người gây thiệt hại không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu. Như vậy, trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này được xác định theo thứ tự: trước hết là từ tài sản của người gây thiệt hại và khi tài sản đó không đủ thì cha, mẹ sẽ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Có thể thấy, quy định này vừa bảo đảm nguyên tắc người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, vừa phản ánh thực tế rằng phần lớn người trong độ tuổi này vẫn đang trong quá trình học tập và chịu sự quản lý, chăm sóc của gia đình. Đồng thời, cơ chế này cũng góp phần bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại được bù đắp một cách đầy đủ và kịp thời.

3. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được giám hộ

Theo quy định tại khoản 3 Điều 586 BLDS 2015, đối với trường hợp người được giám hộ gây thiệt hại cho người khác thì trách nhiệm bồi thường trước hết được xác định dựa trên tài sản của chính người được giám hộ. Người được giám hộ trong trường hợp này có thể là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Nếu người được giám hộ có tài sản riêng, người giám hộ được sử dụng tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại.

Trường hợp người được giám hộ không có tài sản hoặc tài sản không đủ để bồi thường, thì người giám hộ phải dùng tài sản của mình để bồi thường phần còn thiếu. Quy định này nhằm ràng buộc trách nhiệm của người giám hộ trong việc quản lý, chăm sóc và giám sát người được giám hộ, đồng thời bảo đảm quyền lợi của người bị thiệt hại theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại. Tuy nhiên, người giám hộ sẽ không phải sử dụng tài sản của mình để bồi thường thiệt hại do người được giám hộ gây ra nếu chứng minh được rằng mình không có lỗi trong việc giám hộ.

4. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong thời gian cá nhân được tổ chức trực tiếp quản lý

Trong thực tiễn, một vấn đề thường được đặt ra là: ai phải chịu trách nhiệm bồi thường khi người chưa đủ 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại trong thời gian đang được nhà trường, bệnh viện hoặc tổ chức khác trực tiếp quản lý. Việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trở nên phức tạp hơn khi người gây thiệt hại đang trong thời gian được nhà trường, bệnh viện hoặc tổ chức khác trực tiếp quản lý. Để giải quyết tình huống này, Điều 599 BLDS 2015 đã thiết lập cơ chế phân định trách nhiệm giữa gia đình và tổ chức đang trực tiếp quản lý. Theo đó, nếu người chưa đủ 15 tuổi hay người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại trong thời gian trường học bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý, thì tổ chức trực tiếp quản lý đối tượng trên phải bồi thường thiệt hại xảy ra.

 

“Thời gian quản lý” được hiểu là khoảng thời gian mà các tổ chức theo chức năng nghề nghiệp trực tiếp thực hiện việc quản lý, giáo dục, chăm sóc hoặc giám sát cá nhân. Trong khoảng thời gian này, trách nhiệm quản lý đối với học sinh hoặc người được chăm sóc được chuyển giao từ gia đình sang nhà trường hoặc tổ chức liên quan. Vì vậy, nếu thiệt hại phát sinh trong thời gian này, tổ chức đang trực tiếp quản lý có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 599 BLDS 2015 cũng ghi nhận một ngoại lệ: nếu nhà trường, bệnh viện chứng minh được rằng mình không có lỗi trong việc quản lý, tức đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giám sát, giáo dục và phòng ngừa rủi ro theo quy định, thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người gây thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Quy định trên xuất phát từ thực tế rằng đây đều là những nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội, thường chưa có khả năng nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, thiếu hiểu biết pháp luật, thậm chí không thể kiểm soát hoặc điều khiển hành vi. Vì vậy, pháp luật đặt ra trách nhiệm quản lý chặt chẽ hơn đối với các chủ thể đang trực tiếp trông nom, chăm sóc và giám sát họ, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại.

Hồng Minh

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline: 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website: emeraldlawfirm.vn hoặc email: emerald.VAA@gmail.com để được đội ngũ luật sư của Luật Emerald hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật