Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ

14/08/2024
Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ

1. Quy định của pháp luật về yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu chứng cứ

1.1. Khi đương sự yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu chứng cứ

Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp. Việc thu thập và giao nộp chứng cứ của đương sự là yếu tố quan trọng để Tòa án có căn cứ giải quyết vụ án một cách khách quan và nhanh chóng.

Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ cho mình. Khi đương sự muốn yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu chứng cứ thì phải có đơn yêu cầu. Trong đơn yêu cầu đó phải ghi rõ các nội dung sau đây:

– Tài liệu, chứng cứ cần cung cấp;

– Lý do cung cấp tài liệu, chứng cứ;

– Họ, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần cung cấp.

Khi nhận được đơn yêu cầu của đương sự thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phải cung cấp tài liệu, chứng cứ trong vòng 15 ngày. Trường hợp các cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự thì phải trả lời lại cho đương sự bằng văn bản và trong văn bản đó phải nêu rõ lý do vì sao không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự.

1.2. Khi Tòa án hoặc Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ

Đương sự có quyền và nghĩa vụ thu thập tài liệu, chứng cứ nhưng không phải lúc nào đương sự cũng có thể tự mình thu thập được các tài liệu do cơ quan, tổ chức lưu giữ để cung cấp cho Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ nhưng vẫn không thể tự mình thu thập được thì đương sự có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho mình hoặc đương sự có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ.

Khi đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ thì phải làm đơn gửi cho Tòa án. Trong đơn phải ghi rõ các nội dung sau:

– Vấn đề cần chứng minh;

– Tài liệu, chứng cứ cần thu thập;

– Lý do đương sự không thể tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ;

– Họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập.

Theo khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định khi đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy cần thiết Tòa án sẽ ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Khi Tòa án có yêu cầu thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm phải cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án. Trường hợp hết thời hạn 15 ngày mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu thì phải có văn bản trả lời nêu rõ lý do không cung cấp được tài liệu, chứng cứ.

Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì vẫn phải có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Việc bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự không phải là lý do để miễn cung cấp tài liệu, chứng cứ.

Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện như theo quy định Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ.

2. Quy định pháp luật về xử lý hành vi vi phạm quy định về cung cấp tài liệu, chứng cứ

Hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ là thuộc vào nhóm hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 495 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo điểm a khoản 1 Điều 18 Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 về Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng quy định như sau:

 “Điều 18. Hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan, người có thẩm quyền

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Không thực hiện yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà người đó đang quản lý, lưu giữ;”

Cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự sẽ bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền. Mức phạt tiền được quy định ở điều trên là mức phạt được áp dụng đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cá nhân. Còn đối với tổ chức có hành vi vi phạm trên thì mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Có nghĩa là nếu tổ chức có hành vi không thực hiện yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đang quản lý, lưu giữ thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

Theo Điều 48 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 quy định thẩm quyền xử phạt hành chính của Tòa án nhân dân, chế tài xử phạt, mức phạt như sau:

– Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 1.000.000 đồng;

– Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự khu vực có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 7.500.000 đồng;

– Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp cao có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Mỹ Duyên

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật