Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không? Là câu hỏi được rất nhiều người thắc mắc khi không xác định rõ ràng được vị trí pháp lý của đối tượng này. Để trả lời được câu hỏi này, Quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu các khái niệm liên quan qua bài viết ngày hôm nay nhé!
1. Tài sản là gì?
Tài sản theo Bộ luật dân sự năm 2015 được quy định như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.
Như vậy, tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Đối với quyền tài sản, Điều 115 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định rằng, quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Trong khi giấy tờ có giá được quy định tại khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam chính là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác.
Đồng thời, tài sản mang những đặc điểm sau:
(1) phải đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người;
(2) phải nằm trong sự chiếm hữu của con người;
(3) trị giá được thành tiền và là đối tượng trong trao đổi tài sản;
(4) quyền sở hữu chấm dứt khi tài sản không còn tồn tại.
2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là gì?
Khoản 21 Điều 3 Luật đất đai năm 2024 quy định, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Tóm lại, khi sở hữu quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, chủ thể có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như một bằng chứng cho việc sở hữu của mình.

3. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không?
Để làm rõ vấn đề này, ngoài việc hiểu các khái niệm trên, ta còn phải nhìn rõ mối quan hệ pháp lý giữa chúng.
Đầu tiên, ta có thể thấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không dùng với mục đích xác nhận nghĩa vụ trả nợ của bất kỳ chủ thể nào. Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là giấy tờ có giá.
Bên cạnh đó, căn cứ khoản 21 Điều 3 Luật đất đai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được sử dụng như một chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất. Từ đó, ta suy ra được rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là quyền sử dụng đất mà chỉ là một công cụ để xác nhận một chủ thể có quyền sử dụng đất. Do đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuộc các đối tượng là tài sản được liệt kê tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015.
Thêm vào đó, việc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không còn tồn tại không đồng nghĩa với việc chủ thể sở hữu quyền sử dụng đất mất đi quyền này, mà trên thực tế quyền này vẫn còn tồn tại và có thể được chứng minh bằng một bằng chứng khác. Dễ thấy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không đáp ứng đủ đặc điểm của tài sản.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra kết luận rằng, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản mà chính quyền sử dụng đất mới được xem là tài sản theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015.
Nhựt Anh
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là tài sản không?”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.