Đình chỉ điều ra vụ án hình sự là việc cơ quan có thẩm quyền kết thúc việc điều tra vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ do BLTTHS quy định. Vậy, đó là những căn cứ gì? Quy định về quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự ra sao? Quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé!
1. Căn cứ đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự quy định, Cơ quan điều tra tiến hành đình chỉ vụ án nếu rơi vào một trong các trường hợp:
– Người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ:trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức
– Các trường hợp không khởi tố vụ án hình sự:
- Không có sự việc phạm tội;
- Hành vi không cấu thành tội phạm;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
- Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
- Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Tội phạm đã được đại xá;
- Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
– Các tội phạm sau được quy định trong BLHS tại khoản 1 mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố:
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh;
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính;
- Tội hiếp dâm;
- Tội cưỡng dâm;
- Tội làm nhục người khác;
– Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội;
– Có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự;
– Người dưới 18 tuổi phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả;
– Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

2. Quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự
– Quyết định đình chỉ phải chỉ rõ:
- Thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do căn cứ đình chỉ điều tra;
- Việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có);
- Việc xử lý vật chứng và những vấn đề khác có liên quan.
– Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra:
- Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ;
- Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ;
- Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố nếu thấy có đủ căn cứ để truy tố.
– Trường hợp có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
Nhựt Anh
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Đình chỉ điều tra vụ án hình sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.