Kết quả của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ dựa vào thẩm quyền ra một trong các quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm đối với các bản án, quyết định của Toà án. Như vậy, thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm bao gồm những gì? Kết quả của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm ra sao? Quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé!
1. Kết quả của thủ tục giám đốc thẩm
1.1. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
Có thể thấy, trong một phiên giám đốc thẩm, kết quả của thủ tục giám đốc thẩm phụ thuộc vào thẩm quyền đưa ra các quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm.
Căn cứ vào Điều 388 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền trong việc đưa ra các quyết định sau:
– Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
– Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật.
– Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
– Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.
– Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
– Đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Như vậy, tuỳ vào tình hình mà Hội đồng giám đốc thẩm ra một trong các quyết định nêu trên thì thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có các kết quả khác nhau.
1.2. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
Do nhiều yếu tố khách quan hoặc chủ quan mà tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giám đốc thẩm chưa đánh giá, xem xét vấn đề một cách chính xác hoặc tại thời điểm ra quyết định giám đốc thẩm thì sự xem xét, đánh giá sự việc là chính xác nhưng có những sự chuyển biến trong tình tiết làm nội dung kháng nghị không còn phù hợp.
Trong những trường hợp này, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền ra quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
(Điều 389 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)
1.3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật
Nhằm đảm bảo cho việc thực thi các phán quyết của Toà án một cách công minh, mặc dù bản án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm có căn cứ cho rằng bản án đó đã bị huỷ, sửa không đúng pháp luật thì trong trường hợp này, Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền ra quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó và giữ nguyên bản án của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm bị huỷ, sửa không đúng pháp luật.
(Điều 390 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)
1.4. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại
Nếu có một trong các căn cứ sau:
– Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
– Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;
– Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
(Điều 371 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)
Thì Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
Nếu hủy để xét xử lại thì tùy trường hợp, Hội đồng giám đốc thẩm có thể quyết định xét xử lại từ cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm.
(Điều 391 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

1.5. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án
Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án nếu có một trong các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự (Điều 171 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) sau:
– Không có sự việc phạm tội;
– Hành vi không cấu thành tội phạm;
– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
– Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
– Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
– Tội phạm đã được đại xá;
– Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
– Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.
(Điều 392 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)
1.6. Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Khi Hội đồng giám đốc thẩm xét thấy các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã rõ ràng, đầy đủ và đồng thời việc sửa bản án, quyết định không làm thay đổi bản chất của vụ án, không làm xấu đi tình trạng của người bị kết án, không gây bất lợi cho bị hại, đương sự thì Hội đồng giám đốc thẩm có thẩm quyền ra quyết định sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
(Điều 393 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)
1.7. Đình chỉ xét xử giám đốc thẩm
Việc đình chỉ xét xử giám đốc thẩm diễn ra khi người kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị, thẩm quyền đình chỉ xét xử giám đốc thẩm được quy định như sau:
– Khi người kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm;
– Khi người kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
(Khoản 3 Điều 381 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

2. Kết quả của thủ tục tái thẩm
Khi bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, Hội đồng tái thẩm được thành lập với thẩm quyền được quy định tại Điều 402 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
– Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
– Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại;
– Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án;
– Đình chỉ việc xét xử tái thẩm.
Như vậy, kết quả của thủ tục tài thẩm sẽ dựa vào tình hình xem xét các tài liệu có liên quan, Hội đồng tái thẩm ra một trong các quyết định nêu trên đối với bản án, quyết định hình sự bị kháng nghị.
Xem thêm: Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Nhựt Anh
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Kết quả của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong tố tụng hình sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.