NGHĨA VỤ HOÀN TRẢ DO CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG TÀI SẢN, ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT

16/03/2026
NGHĨA VỤ HOÀN TRẢ DO CHIẾM HỮU, SỬ DỤNG TÀI SẢN, ĐƯỢC LỢI VỀ TÀI SẢN KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT

Trong quan hệ dân sự, nguyên tắc cơ bản là mọi chủ thể phải tôn trọng quyền sở hữu và quyền đối với tài sản của người khác. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn tồn tại các trường hợp một cá nhân hoặc tổ chức chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác hoặc được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật. Trong tình huống thực tiễn thì việc một người tiếp nhận được một tài sản hoặc một lợi ích trong khi căn cứ pháp lý của việc tiếp nhận đó lại không rõ ràng hoặc không có. Các nguyên nhân nhân dẫn đến các tình huống như vậy cũng rất nhiều, ví dụ: một người nhận được một kiện hàng do người gửi ghi nhầm địa chỉ người nhận, nhưng người nhận lại giữ luôn không gửi trả lại, hoặc những tài sản bị rơi vãi trong quá trình vận chuyển của xe trung chuyển, có người nhặt được tài sản bị rơi và sử dụng đó như là tài sản của mình.

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu cũng như duy trì trật tự trong các quan hệ tài sản, pháp luật dân sự Việt Nam quy định nghĩa vụ hoàn trả đối với các trường hợp này. Theo quy định của pháp luật hiện hành, vấn đề này được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và đặt ra trách nhiệm hoàn trả đối với người chiếm hữu, sử dụng hoặc được lợi về tài sản khi việc chiếm hữu, sử dụng hoặc hưởng lợi đó không có căn cứ pháp luật.

Mục lục

1.    Khái niệm chiếm hữu và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật

Theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản”.

Việc chiếm hữu tài sản có thể phát sinh từ nhiều căn cứ khác nhau. Điều 165 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định các trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật như:

“1. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:

a) Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;

b) Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;

c) Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;

d) Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

đ) Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;

e) Trường hợp khác do pháp luật quy định.”

Ngược lại, chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật được hiểu là việc một chủ thể nắm giữ, sử dụng tài sản nhưng không thuộc các trường hợp chiếm hữu, sử dụng theo quy định của pháp luật. Trong thực tế, hành vi này có thể phát sinh từ việc chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật hoặc từ việc chiếm hữu ngay tình khi chủ thể không biết và cũng không thể biết việc chiếm hữu của mình là không có căn cứ pháp luật.

2.    Tiêu chí nhận diện trường hợp chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật

2.1. Có việc chiếm hữu, sử dụng tài sản

Bộ luật Dân sự quy định “người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác”. Quy định này cho thấy nghĩa vụ hoàn trả chỉ phát sinh khi việc chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản thực sự tồn tại trên thực tế. Nói cách khác, việc nắm giữ hoặc khai thác tài sản phải có tính hiện thực. Trong thực tiễn, tình huống này có thể xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau, chẳng hạn như tiền đã được chuyển vào tài khoản, hàng hóa đã được giao và nằm trong sự kiểm soát của người nhận hoặc đã được đem ra sử dụng.

Bộ luật Dân sự không quy định cụ thể trong những hoàn cảnh nào việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác được xác lập. Tuy nhiên, về mặt hợp lý, để có thể xảy ra việc chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản của người khác thì phải tồn tại một sự chuyển giao tài sản từ người đó, thường phát sinh do nhầm lẫn. Trường hợp chủ sở hữu không thực hiện việc chuyển giao mà tài sản vẫn bị người khác chiếm hữu hoặc sử dụng thì việc chiếm hữu, sử dụng này rõ ràng trái với ý chí của chủ sở hữu và có thể gây thiệt hại cho họ. Khi việc chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác dẫn đến thiệt hại cho chủ sở hữu thì cần ghi nhận tình trạng được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật theo khoản 4 Điều 580 Bộ luật Dân sự 2015.

Ngược lại, nếu tài sản đã rời khỏi phạm vi kiểm soát của người chuyển giao nhưng người được cho là người nhận chưa có điều kiện đặt tài sản đó trong phạm vi quản lý của mình thì chưa thể coi là đã phát sinh việc chiếm hữu hoặc sử dụng. Ví dụ: một công ty chuyển phát nhanh nhận vận chuyển một kiện hàng đến nhà số X, Quận Y. Tuy nhiên, hàng hóa lại bị giao nhầm đến địa chỉ nhà số X, Quận Z. Do chủ nhà đi vắng, người giao hàng đặt hàng hóa trước cửa. Sau đó, lô hàng bị người khác lấy mất. Trong trường hợp này, chủ nhà không có nghĩa vụ hoàn trả vì chưa từng thực sự chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản.

2.2. Việc chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật

Người bị xem là chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật là người không có cơ sở pháp lý để nắm giữ, quản lý hoặc khai thác tài sản đó.

Việc chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật có thể phát sinh từ hai dạng khác nhau: không có căn cứ khách quan hoặc không có căn cứ chủ quan.

Trường hợp không có căn cứ khách quan được xác định khi cả người giao và người nhận đều không có cơ sở hợp pháp để thực hiện việc giao và nhận tài sản. Ngược lại, trường hợp không có căn cứ chủ quan phát sinh khi ít nhất một bên hoặc cả hai bên có căn cứ để thực hiện việc giao và nhận tài sản, nhưng việc chuyển giao cuối cùng lại xảy ra cho người không phải là người dự định nhận tài sản. Cũng có trường hợp người nhận có ý định nhận tài sản nhưng người chuyển giao lại không phải là chủ thể mà người nhận dự định giao dịch.

Một ví dụ điển hình của việc chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ khách quan là trường hợp nhận tài sản hoặc lợi ích theo một hợp đồng mua bán bị tuyên bố vô hiệu. Khi hợp đồng bị vô hiệu, người mua không có quyền giữ lại tài sản đã mua, đồng thời người bán cũng không có quyền giữ số tiền mà người mua đã thanh toán.

Đối với trường hợp không có căn cứ chủ quan, ví dụ điển hình là việc ngân hàng nhận lệnh chuyển tiền và có nghĩa vụ thực hiện việc chuyển tiền cho một người nhất định, nhưng do sai sót lại chuyển tiền vào tài khoản của người khác.

3.    Tiêu chí nhận diện trường hợp được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật

3.1. Có sự gia tăng giá trị tài sản hoặc sự thụ hưởng lợi ích

Khoản 2 Điều 579 Bộ luật Dân sự 2015 đề cập đến người được lợi về tài sản một cách khái quát. Trên thực tế, tình trạng được lợi về tài sản được ghi nhận khi khối tài sản của một chủ thể gia tăng về giá trị. Sự gia tăng đó có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn như sự xuất hiện của một yếu tố mới trong khối tài sản có (ví dụ một khoản tiền được chuyển vào tài khoản), hoặc sự giảm bớt của một yếu tố trong khối tài sản nợ (chẳng hạn một khoản nợ vô tình được người khác thanh toán thay).

3.2. Có thiệt hại về tài sản do người khác gánh chịu

Khoản 2 Điều 579 Bộ luật Dân sự cũng đặt ra điều kiện phải tồn tại thiệt hại về tài sản mà một chủ thể khác phải gánh chịu. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa trường hợp được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và trường hợp chiếm hữu, sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật.

Chẳng hạn, khi một người mắc nợ trả tiền nhầm cho người khác không phải chủ nợ nhưng chủ nợ thực sự chưa yêu cầu thanh toán, thì thiệt hại chưa phát sinh đối với người trả nhầm. Trong trường hợp này, cần ghi nhận tình trạng chiếm hữu, sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật và người trả nhầm chỉ có quyền yêu cầu hoàn trả theo khoản 1 Điều 579 Bộ luật Dân sự.

Ngược lại, nếu sau khi trả nhầm mà chủ nợ thực sự yêu cầu thanh toán, buộc người mắc nợ phải trả thêm một lần nữa, thì thiệt hại đã phát sinh. Khi đó, người trả nhầm có quyền áp dụng khoản 2 Điều 579 Bộ luật Dân sự để yêu cầu người nhận nhầm hoàn trả khoản lợi đã nhận.

Thiệt hại trong trường hợp này được hiểu là sự tổn thất về tài sản của chủ thể. Xét về mặt định lượng, đó là sự giảm sút giá trị trong khối tài sản của người bị thiệt hại so với trước khi sự kiện xảy ra. Ví dụ, một công ty thu mua trái cây thanh toán nhầm tiền mua hàng cho chủ vườn M, trong khi chủ vườn N mới là người thực sự bán hàng thì lại chưa nhận được tiền. Sau đó, do bị chủ vườn N yêu cầu thanh toán, công ty phải trả tiền thêm một lần nữa.

3.3. Có mối quan hệ nhân quả giữa việc được lợi và thiệt hại

Để xác định tình trạng được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật, cần phải tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa sự thiệt hại của một chủ thể và lợi ích mà chủ thể khác thu được. Nói cách khác, chính sự thiệt hại của người này là nguyên nhân dẫn đến lợi ích của người kia, đối với cùng một sự kiện sự thiệt hại của người này đồng thời thể hiện thành lợi ích của người khác.

4.    Thế nào là không có căn cứ pháp luật

Tình trạng được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật được xác định khi không tồn tại bất kỳ quy phạm pháp luật nào có thể làm cơ sở hợp pháp cho việc hưởng lợi đó.

Ví dụ, một công ty xuất khẩu lúa gạo ký hợp đồng bán 30 tấn gạo cho một doanh nghiệp nước ngoài nhưng trên thực tế lại giao đến 50 tấn do nhầm lẫn. Trong trường hợp này, không có cơ sở pháp lý nào để biện minh cho việc bên mua được hưởng lợi từ 20 tấn hàng hóa dư.

4.1. Chỉ cần xác định việc hưởng lợi không có căn cứ pháp luật

Nếu việc hưởng lợi có căn cứ pháp luật thì người bị thiệt hại không thể yêu cầu hoàn trả, ngay cả khi tình trạng thiệt hại đó có vẻ không hợp lý đối với họ.

Ví dụ, trong hợp đồng thuê nhà có thỏa thuận rằng khi hết thời hạn thuê, người cho thuê sẽ tiếp nhận toàn bộ các công trình do người thuê xây dựng mà không phải bồi thường. Nếu người thuê thuê nhà thầu xây dựng các công trình phụ nhưng chưa thanh toán tiền công mà đã hết thời hạn thuê, thì nhà thầu không thể yêu cầu người cho thuê thanh toán thay. Lý do là quan hệ hợp đồng giữa người thuê và nhà thầu chỉ ràng buộc hai bên, không làm phát sinh nghĩa vụ đối với người cho thuê.

4.2. Lỗi của người bị thiệt hại

Trong một số trường hợp, thiệt hại phát sinh có thể xuất phát từ lỗi của chính người bị thiệt hại. Ví dụ: Thợ sửa xe tự ý sửa chữa thêm một hỏng hóc mà chủ xe không yêu cầu.

Tuy nhiên, trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rằng: “Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Từ đó có thể suy luận rằng nếu người bị thiệt hại có lỗi thì người được hưởng lợi có thể không phải hoàn trả phần lợi ích tương ứng với phần lỗi của người bị thiệt hại.

5.    Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật

Nghĩa vụ hoàn trả được quy định tại Điều 579 Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau:

“1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.”

Quy định này thể hiện nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là không một chủ thể nào được phép chiếm hữu hoặc sử dụng từ tài sản của người khác khi không có căn cứ pháp luật hợp lệ. Trong trường hợp xảy ra tình huống này, chủ thể chiếm hữu hoặc sử dụng có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó, trong trường hợp không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định ở điều 236:

“Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

6.    Quy định về tài sản phải hoàn trả

Về việc hoàn trả thì được quy định cụ thể tại  Điều 580 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả toàn bộ tài sản đã thu được.

2. Trường hợp tài sản hoàn trả là vật đặc định thì phải hoàn trả đúng vật đó; nếu vật đặc định đó bị mất hoặc hư hỏng thì phải đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Trường hợp tài sản hoàn trả là vật cùng loại, nhưng bị mất hoặc hư hỏng thì phải trả vật cùng loại hoặc đền bù bằng tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật phải hoàn trả khoản lợi về tài sản đó cho người bị thiệt hại bằng hiện vật hoặc bằng tiền.”

7.    Nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi và lợi tức

Ngoài việc hoàn trả tài sản chính, pháp luật còn quy định nghĩa vụ hoàn trả hoa lợi và lợi tức phát sinh từ tài sản. Điều 581 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật và không ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

2. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.”

Quy định này nhằm phân biệt rõ trách nhiệm giữa người chiếm hữu ngay tình và người chiếm hữu không ngay tình, từ đó bảo đảm sự công bằng trong việc xác định nghĩa vụ hoàn trả.

8.    Trách nhiệm hoàn trả trong trường hợp tài sản được chuyển giao cho người thứ ba

Trong thực tế, có nhiều trường hợp người chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản không có căn cứ pháp luật đã chuyển giao tài sản đó cho người thứ ba. Điều 582 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rằng khi chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền đối với tài sản yêu cầu hoàn trả thì người thứ ba đang giữ tài sản có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu tài sản đó đã được trả bằng tiền hoặc có đền bù thì người thứ ba có quyền yêu cầu người đã giao tài sản cho mình bồi thường thiệt hại.

Quy định này nhằm bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu tài sản và hạn chế việc lưu thông tài sản có nguồn gốc từ hành vi chiếm hữu trái pháp luật.

9.    Nghĩa vụ thanh toán chi phí khi hoàn trả tài sản

Bên cạnh nghĩa vụ hoàn trả tài sản, pháp luật cũng quy định về nghĩa vụ thanh toán chi phí phát sinh trong quá trình chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản. Theo Điều 583 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi chủ sở hữu, người có quyền đối với tài sản, người bị thiệt hại được hoàn trả lại tài sản thì phải thanh toán các chi phí cần thiết mà người chiếm hữu, người sử dụng tài sản hoặc người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình đã bỏ ra để bảo quản hoặc làm tăng giá trị của tài sản.

Quy định này nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ tài sản, tránh trường hợp người chiếm hữu ngay tình phải gánh chịu toàn bộ chi phí đã bỏ ra để bảo quản hoặc cải tạo tài sản.

Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam. Quy định này không chỉ nhằm bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức mà còn góp phần duy trì trật tự, kỷ cương trong các quan hệ tài sản.

Thông qua việc quy định rõ trách nhiệm hoàn trả tài sản, hoa lợi, lợi tức cũng như các chi phí liên quan, Bộ luật Dân sự 2015 tạo ra cơ chế pháp lý bảo đảm rằng mọi lợi ích về tài sản phải được xác lập trên cơ sở hợp pháp và minh bạch.

Biện pháp bảo đảm 1

10.   Hậu quả pháp lý nếu không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả

          Căn cứ theo khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt hành vi vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản, cá nhân khác như sau:

“Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

đ) Sử dụng, mua, bán, thế chấp, cầm cố trái phép hoặc chiếm giữ tài sản của người khác;

e) Cưỡng đoạt tài sản nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 và các điểm a, b, c và đ khoản 2 Điều này;

b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các điểm c, d và đ khoản 2 Điều này;

b) Buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép đối với hành vi vi phạm quy định tại các điểm đ và e khoản 2 Điều này;

c) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.”

Theo đó, tại điểm đ, khoản 2 của Điều này thì người có hành vi sử dụng, mua, bán , thế chấp, cầm cố trái phép hoặc chiếm giữ tài sản của người khác có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đến 5.000.000 đồng.

Ngoài ra theo khoản 3,4 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả

Đồng thời, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và buộc trả lại tài sản do chiếm giữ trái phép. Nếu người vi phạm là người nước ngoài thì bị trục xuất.

Lưu ý: Mức phạt tiền này là mức phạt được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Đồng thời, căn cứ theo Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, quy định về tội chiếm giữ trái phép tài sản:

“1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Theo đó, hành vi chiếm giữ tài sản trái phép có thể bị phạt tù lên tới 05 năm tùy theo mức độ và tính chất của hành vi phạm tội.

Tuy nhiên trong Bộ luật Dân sự 2015 cũng có quy định tại Điều 236 như sau:

“Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”

11.   Quyền của chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác

Điều 164, quy định như sau:

“1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”

Đồng thời,  khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 cũng có quy định về quyền đòi lại tài sản:

“1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.”

          Điều 185 Bộ luật Dân sự 2015 quy định trường hợp việc chiếm hữu bị người khác xâm phạm thì người chiếm hữu có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm phải chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại.

           Theo đó, người chiếm hữu có quyền tự mình bảo vệ việc chiếm hữu khi bị xâm hại và có quyền yêu cầu chủ thể là Tòa án, cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền bảo vệ việc chiếm hữu của mình.

Đăng Khoa

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Nghĩa vụ hoàn trả do chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật