Tranh tụng trong xét xử là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng trong tố tụng hình sự nhằm giúp chủ thể tham gia tố tụng đánh giá toàn diện, khách quan toàn bộ vụ án, đưa ra quyết định xử lý đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội. Với tầm quan trọng như vậy thì nguyên tắc tranh tụng hiện nay được quy định như thế nào? Quy trình tranh tụng có gì đặc biệt? Quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé!
1. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận, tranh tụng trong xét xử là một trong những nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình sự. Tiền thân của nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước tòa án.
Nguyên tắc tố tụng trong xét xử nêu rõ: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án một cách đầy đủ và hợp pháp cho Tòa án.
Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác theo quy định.
Nguyên tắc này còn xác định rõ vai trò của Tòa án theo đó: Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.

2. Thủ tục tranh tụng
Thủ tục tranh tụng hiện nay bao gồm thủ tục đưa ra chứng cứ, yêu cầu, xét hỏi và tranh luận với nhau nhằm bảo vệ quan điểm của mình hoặc bác bỏ quan điểm của người khác.
2.1. Thủ tục xét hỏi
2.1.1. Công bố cáo trạng
Thủ tục công bố cáo trạng sẽ diễn ra trước khi bắt đầu phần xét hỏi. Cụ thể, Kiểm sát viên phải công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, tuy nhiên ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo. “Không làm xấu đi tình trạng của bị cáo” tức là khi Kiểm sát viên quyết định truy tố bị can bằng cáo trạng, thì Kiểm sát viên phải cho bị can hoặc người đại diện của bị can và gửi cho người bào chữa một khoảng thời gian để đưa ra quan điểm bào chữa, nếu tại phiên toà Kiểm sát viên đưa ra nội dung làm xấu đi tình trạng của bị cáo thì sẽ đẩy bị cáo vào tình trạng bất lợi.
2.1.2 Trình tự xét hỏi
Việc quyết định trình tự xét hỏi thuộc thẩm quyền của chủ toạ phiên toà; đồng thời chủ toạ phiên toà còn có trách nhiệm xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người
Thứ tự xét hỏi được thực hiện bằng việc chủ tọa phiên tòa sẽ đặt câu hỏi trước, sau đó quyết định thứ tự đặt câu hỏi của Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Người tham gia phiên toà có quyền: đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Người giám định, người định giá tài sản có quyền: hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản.
2.1.3. Công bố lời khai
Thủ tục công bố lời khai được quy định như sau:
– Được công bố lời khai của người được xét hỏi trong giai đoạn điều tra, truy tố nếu như họ vắng mặt trong phiên toà;
– Trong những trường hợp nhất định sau thì được quyền công bố lời khai của người được xét hỏi trong giai đoạn điều tra, truy tố:
+ Khi lời khai có mâu thuẫn;
+ Không khai tại phiên toà hoặc không nhớ những gì mình khai trong giai đoạn điều tra, truy tố;
+ Người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ.
+ Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết
– Trường hợp không công bố lời khai: khi Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của người được xét hỏi nếu cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật gia đình.
2.1.4. Phạm vi hỏi bị cáo, bị hại, đương sự, người đại diện, người làm chứng
2.1.4.1. Phạm vi hỏi bị cáo
– Bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng, những tình tiết của vụ án;
– Phạm vi hỏi bị cáo:
- Chủ toạ phiên toà hỏi riêng từng bị cáo, đặc biệt nếu lời khai ảnh hưởng đến nhau, phải cách ly họ;
- Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn;
- Kiểm sát viên: hỏi về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội và những tình tiết khác của vụ án;
- Người bào chữa: hỏi về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa và tình tiết khác của vụ án.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự: hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự.
- Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết liên quan đến họ.
– Trường hợp bị cáo không trả lời: thì các chủ thể có quyền hỏi tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án
– Bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác, bị hại, đương sự hoặc người đại diện, người làm chứng về các vấn đề có liên quan đến bị cáo khi được chủ toạ đồng ý.
2.1.4.2. Phạm vi hỏi bị hại, đương sự và người đại diện của họ
– Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn sau khi bị hại, đương sự, người đại diện của họ trình bày những tình tiết của vụ án liên quan tới họ.

2.1.4.3. Phạm vi hỏi người làm chứng
– Người làm chứng được hỏi từng người một và không để người làm chứng khác biết được nội dung của việc xét hỏi đó.
– Hội đồng xét xử hỏi người làm chứng về quan hệ giữa họ với bị cáo, đương sự.
– Chủ toạ phiên toà hỏi về những tình tiết của vụ án mà họ đã biết, những điểm khai chưa đầy đủ hoặc mâu thuẫn.
– Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, bị cáo có thể hỏi thêm người làm chứng,
2.1.4.4. Kết luận
Những quy định về về phạm vi xét hỏi trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định mở rộng hơn phạm vi xét hỏi của Kiểm sát viên và người bào chữa. Cụ thể, trong Bộ luật tố tụng hình sự cũ quy định Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội. Hiện nay, phạm vi hỏi bị cáo được mở rộng ra, Kiểm sát viên có thể hỏi về những chứng cứ, đồ vật, tài liệu có liên quan. Đối với các quy định về phạm vi xét hỏi của người bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã mở rộng từ được hỏi các tình tiết liên quan đến việc bào chữa sang được hỏi thêm các tình tiết khác của vụ án.
2.1.5. Thủ tục xem xét vật chứng và nghe, xem nội dung có ghi âm, ghi hình, có âm thanh
Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận sẽ được mang ra xem xét tại tòa. Trong trường hợp vật chứng không thể mang đến phiên tòa, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng đến xem xét tại chỗ vật chứng và phải lập thành biên bản.. Sau khi xem xét vật chứng, Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa được quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ cho bị hại có quyền hỏi thêm người tham gia phiên toà những vấn đề có liên quan đến vật chứng.
Trường hợp cần kiểm tra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án hoặc khi bị cáo tố cáo bị bức cung, dùng nhục hình, Hội đồng xét xử quyết định việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh liên quan tại phiên tòa.
Quy định này giúp xác định rõ các tình tiết khách quan của vụ án giúp quá trình tố tụng trở nên đầy đủ, toàn diện và chính xác hơn.
2.1.6. Trình bày, công bố ý kiến, tài liệu của cơ quan, tổ chức
– Tài liệu của cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ án được công bố tại phiên toà và do đại diện của cơ quan, tổ chức đó trình bày.
– Trong trường hợp không có mặt của cơ quan, tổ chức đó tại phiên tòa, thì Hội đồng xét xử công bố báo cáo, tài liệu tại phiên tòa.
– Những tài liệu này có thể được nhận xét và hỏi thêm bởi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa.
2.1.7. Hỏi người giám định, người định giá tài sản
– Khi có mặt của người giám định, người định giá tài sản:
- Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo yêu cầu mời người giám định, người định giá tài sản trình bày về kết luận giám định
- Kiểm sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận giám định và hỏi những điều chưa rõ, mâu thuẫn.
– Trường hợp người giám định, người định giá tài sản không có mặt tại phiên tòa, chủ toạ phiên toà công bố kết quả giám định, định giá tài sản. Khi cần thiết, chủ toạ phiên toà quyết định việc giám định lại hoặc giám định bổ sung.
2.1.8. Kết thúc việc xét hỏi
Việc xét hỏi kết thúc khi chủ toạ phiên toà hỏi những người tham gia tố tụng khác về việc có cần xét hỏi thêm vấn đề gì khác không. Nếu không thì kết thúc việc xét hỏi; nếu có thì đánh giá xem yêu cầu đó là có cần thiết hay không để tiếp tục cho xét hỏi.

2.2. Thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
2.2.1. Kiểm sát viên trình bày luận tội
Luận tội của Kiểm sát viên phải dựa trên những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của những người tham gia tố tụng.
Luận tội thể hiện quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát đối với hành vi của bị cáo. Quá trình tranh tụng sẽ được diễn ra xung quanh nội dung buộc tội của Viện kiểm sát.
Để phiên tranh luận chất lượng, bản luận tội phải được Viện kiểm sát xây dựng dựa trên những căn cứ, tài liệu, bằng chứng và những vấn đề đã được kiểm chứng tại tòa. Đồng thời, nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
2.2.2. Tranh luận tại phiên tòa
Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những vấn đề mà Viện kiểm sát nêu trong bản luận tội. Trong khi Viện kiểm sát buộc tội bị cáo; bị cáo và người bào chữa của bị cáo dựa trên những quan điểm và lập luận để góp phần gỡ tội nhẹ cho bị cáo. Khi các tình tiết vụ án đã được các bên tranh luận, khi đó đảm bảo xem xét đầy đủ các chứng cứ và nhìn nhận vụ án đa chiều từ đó đảm bảo tính chính xác của phán quyết được đưa ra.
Trong khi quá trình tranh luận diễn ra. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.
Đặc biệt, chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại. Bởi lẽ, chỉ thông qua quá trình tranh luận bình đẳng, công khai tại phiên toà, phán quyết mới có sức nặng và có tính thuyết phục. Do đó, chủ toạ phiên toà phải tạo điều kiện để các bên nêu ra hết những lập luận của mình không được hạn chế thời gian tranh luận của phiên tranh luận, không giới hạn chế thời gian phát biểu của bất kỳ bên nào.
Trong quá trình các bên tranh luận, hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án.
Trở lại việc xét hỏi: nếu đã qua phần tranh luận tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy còn có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ thì Hội đồng xét xử phải quay trở lại việc xét hỏi. Sau khi xét hỏi xong thì phải tiếp tục tranh luận.

2.2.3. Bị cáo nói lời sau cùng
Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận. Trước khi bước vào phần nghị án, bị cáo được nói lời sau cùng – đây là quyền của bị cáo. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc hỏi. Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo.
2.2.4. Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn
Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó. Trong trường hợp này, căn cứ vào Điều 27 Quyết định số 505/QĐ-VKSTC, việc rút toàn bộ quyết định truy tố được quy định cụ thể như sau:
– Tại phiên tòa, nếu Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố không có căn cứ nhưng Hội đồng xét xử vẫn chấp nhận và tuyên bị cáo không phạm tội thì Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
– Trường hợp Tòa án có kiến nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp về việc Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố tại phiên tòa không có căn cứ, thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhận được kiến nghị nghiên cứu, quyết định hủy việc rút quyết định truy tố và thông báo bằng văn bản cho Tòa án đã kiến nghị biết.
– Nếu việc rút quyết định truy tố của Kiểm sát viên có căn cứ, thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhận được kiến nghị thông báo bằng văn bản cho Tòa án để chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát xem xét, xử lý theo quy định.
Nhựt Anh
Trên đây là bình luận, chia sẻ của Luật Emerald về “Tranh tụng tại phiên toà hình sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.